Chương 2: Cô đào ở Cồn Nhì
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Đêm ấy nhà tôi không ai ngủ.
Bố tôi ngồi trên phản giữa nhà, lưng thẳng, hai đầu gối khép sát, hai bàn tay úp lên đùi. Cái khăn xếp đen vẫn đội trên đầu, buộc kiểu mỏ quạ. U tôi lấy khăn mặt nhúng nước ấm lau phấn cho ông. Ông để yên, nhưng lúc khăn chạm vào má, ông nghiêng đầu né đi một chút, nhẹ nhàng, như con gái né tay người lạ.
"Chị cho em xin bát nước."
U tôi đứng sững. Bố tôi gọi u là chị.
U đưa bát nước. Ông đỡ bằng hai tay, uống từng ngụm nhỏ, ngón út cong ra. Uống xong ông đặt bát xuống, lấy mu bàn tay chấm môi. Bố tôi uống nước xưa nay ừng ực, uống xong khà một tiếng rõ to, lấy tay áo quệt miệng.
U ngồi xuống mép phản, cách ông một khoảng. Giọng u khàn đặc.
"Ông Chút. Ông đừng đùa thế. Con nó sợ."
Ông nhìn u, rồi nhìn sang tôi đang ngồi co ro ở chân cột. Ánh mắt ấy không phải mắt bố tôi. Mắt bố tôi lúc nào cũng nheo nheo, chực cười. Mắt này mở to, đen, ướt, có vẻ ngơ ngác của người vừa tỉnh giấc ở nhà lạ.
"Em không biết ông Chút nào. Em là Thắm, Phạm Thị Thắm, ở Cồn Nhì. Em diễn đoàn Hồng Vạn. Chị cho em hỏi, sao đình Đồng Cói lợp ngói mới thế? Hôm qua còn dột."
Đình Đồng Cói lợp lại ngói năm 1985. Tôi biết vì năm ấy tôi bốn tuổi, ngồi trên vai bố xem người ta cất nóc.
Sáng hôm sau, người trong xóm kéo đến chật sân. Tin bay nhanh hơn gió biển. Người ta đứng ở ngõ, đứng trên bờ ao, trèo lên cả đống rơm để nhìn qua cửa sổ. Bố tôi ngồi trên phản, quay mặt vào trong, thỉnh thoảng cất giọng hát nho nhỏ. Mỗi lần ông hát, đám người ngoài sân lại im bặt.
Tôi nghe người lớn kể lại chuyện cô Thắm, mỗi người một mẩu.
Cô Thắm là con gái độc của bà Khúc ở xóm Cồn Nhì, cách Đồng Cói chừng năm cây số về phía biển. Mười sáu tuổi cô vào đoàn, mười tám tuổi đã đóng Thị Mầu. Người ta bảo cô đóng Thị Mầu hay nhất vùng, liếc mắt một cái là trai làng đỏ mặt, nhưng ngoài đời cô ít nói, đi đâu cũng cúi đầu. Tháng Mười năm 1979, đoàn tập vở Quan Âm Thị Kính trong đình Đồng Cói để đi diễn Tết. Cô ngã từ trên giàn đèn xuống, gãy cổ, chết ngay trên chiếu.
"Giàn đèn hồi ấy cao lắm," bà Gái nói. "Ông Hiển dựng, bắc cả tấm ván làm gác chuông cho Thị Mầu đứng hát vọng xuống. Dây mục, tấm ván lật. Tội con bé."
Có người không tin. Ông Bạ đội trưởng đội sản xuất cũ đứng khoanh tay ở góc sân, nhổ toẹt bã trầu.
"Thằng Chút nó đóng con Nô giả gái hai chục năm nay. Giả giọng đàn bà thì khó gì với nó."
Bà Gái quay lại, gắt:
"Giọng con Nô thì the thé như gà mái ghẹ. Ông nghe đây có giống không? Đây là giọng đào. Giọng con Thắm, tôi nghe nó hát từ hồi nó mười sáu."
Ông Bạ không cãi nữa. Nhưng ông cũng không về.
Đến trưa thì bố tôi bắt đầu hát thật. Ông hát đoạn Thị Mầu lên chùa, cái đoạn trêu chú tiểu, giọng vừa lẳng vừa trong. Hai tay ông múa theo, cổ tay lật mềm như không có xương. Tôi đã xem chị Lụa tập đoạn ấy cả tháng. Chị Lụa múa không bằng.
Đám người ngoài sân không ai cười. Đoạn ấy là đoạn để cười, vậy mà không ai cười.
Hát xong, ông ngừng lại, nhìn ra cổng.
"Anh Hiển đâu? Các chị gọi giùm em anh Hiển."
Ông hỏi câu ấy suốt buổi chiều, cứ chừng nửa giờ lại hỏi. Có người chạy lên trụ sở đoàn ở nhà kho hợp tác cũ. Người ấy về, bảo ông Hiển đi huyện họp, tối mới về.
Tối hôm ấy u bắt tôi ngủ chung với bố trên phản, để u ngủ giường trong canh chừng. U sợ ông bỏ đi lúc đêm. Tôi nằm sát mép phản, lưng quay về phía ông, không dám trở mình.
Không biết đến lúc nào, tôi tỉnh vì tiếng ho.
Tiếng ho khan, khùng khục, rất khẽ, như người cố nén. Tôi nằm im, mắt hé. Bố tôi đã ngồi dậy, quay lưng về phía tôi. Ông với bát nước trên tráp, uống một hơi dài, rồi khà một tiếng nhỏ. Rồi ông lấy tay xoa cổ, lẩm bẩm bằng giọng của chính ông, giọng khàn khàn của một ông hề:
"Khản mất rồi. Mai mà khản thì hỏng."
Tôi nín thở. Tim đập thình thịch dưới lớp chiếu.
Ông ngồi im một lúc. Rồi ông hắng giọng, rất khẽ, và cất lên một hơi ngân. Lần thứ nhất lạc, vỡ ra giữa chừng. Lần thứ hai cao hơn, mảnh hơn. Lần thứ ba thì tròn, trong, là giọng cô Thắm. Ông gật đầu một mình.
Tôi không hiểu mình vừa thấy gì. Tôi chỉ biết mình sợ, nhưng không phải cái sợ như khi nghe chuyện ma. Đó là cái sợ khi thấy người lớn làm một việc mình không được phép biết.
Bố tôi đứng dậy, đi ra hiên. Tôi rón rén bò tới cửa nhìn theo. Trăng gần rằm, sân sáng trắng, khung dệt chiếu của u đổ bóng dài xuống gạch. Bố tôi đứng ở bậc hiên, mặt quay về phía đình. Ông đứng thẳng, hai tay buông, rất lâu. Gió biển thổi qua bãi cói ngoài đê, nghe như có ai đang thở dài.
Rồi ông nói. Lần này lại là giọng đàn bà, nhưng không còn tròn và trong như lúc nãy. Giọng ấy khàn, thấp, như vọng lên từ một cái gì sâu lắm.
"Anh Hiển không đến thì em đến."
Tôi bò về phản, kéo chăn trùm kín đầu. Lúc ấy tôi đã không tự hỏi được câu đáng hỏi nhất: bố tôi vừa tập giọng xong, sao giọng nói ngoài hiên lại khác giọng ông vừa tập?