☾ Truyện Ma Có Thật
← Vai diễn Thị Mầu

Chương 11: Khăn mỏ quạ

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Sáng hôm ấy ông Tửu đánh trống đình. Ba hồi chín tiếng, cái lệ chỉ dùng khi làng có việc lớn. Người Đồng Cói bỏ cả cói phơi dở, kéo ra sân đình. Người Kim Đông theo ông Hiển sang. Có người đạp xe đi Cồn Nhì đón bà Khúc.

U tôi để bố nằm nhà với bà Gái. Ông đã đỡ sốt, nhưng vẫn nằm im, mắt nhìn lên xà nhà, môi mấp máy câu hát cũ.

Ông Hiển đứng giữa chiếu, ngay dưới cái giàn tre còn nguyên từ đêm diễn. Ông không mặc áo sơ mi trắng nữa, chỉ mặc cái áo cánh nâu bạc màu, tóc rối. Qua một đêm, ông như già đi mười tuổi. Vợ ông đứng cạnh, ôm gói giấy báo.

Ông nói. Giọng kép tròn trịa của ông đã vỡ ra, khàn như tiếng nhị đứt dây.

Năm 1979 ông bốn mươi hai tuổi. Ông mê Thắm từ đêm cô đóng Thị Mầu đầu tiên. Ông hứa, ông dọa, ông đèo cô đi diễn, mua quà cho cô. Cô không chịu. Đêm trước hôm ấy, ông chặn cô ở sau đình. Cô nói với ông đúng câu bố tôi đã nói trên gác chuông: anh có treo em lên giàn, em cũng không về nhà anh.

"Sáng hôm sau tôi trèo lên giàn, buộc nút ghẻ ở góc trái," ông Hiển nói. "Tôi chỉ định cho tấm ván nghiêng. Cho nó sợ. Cho nó biết ở đoàn này ai là người giữ cái giàn cho nó đứng."

Ông giơ bàn tay trái lên. Cái sẹo trắng chạy ngang lòng bàn tay.

"Lúc ván lật, tôi đứng dưới, tôi chụp được đầu dây. Dây tuột qua tay tôi, cháy cả thịt. Tôi không giữ được."

Ông kể tiếp, không ai ngắt lời. Thắm nằm trên chiếu, ông là người đến sau bố tôi một bước. Trong lúc bố tôi gào gọi người, ông cúi xuống, cởi cái khăn mỏ quạ trên đầu cô, nhét vào túi áo. Ông không biết vì sao. Ông bảo, lúc ấy ông chỉ muốn giữ một cái gì của cô. Chiều hôm ấy ông lấy một đoạn dây cũ trong kho, cứa dao, vò cho tưa, đưa công an. Rồi ông đe bố tôi.

"Anh Chút không có tội gì," ông nói, quay về phía u tôi. "Tôi bịt miệng anh ấy. Tôi bảo anh ấy là thằng hề."

Bà Khúc đến lúc ông Hiển vừa dứt lời. Người ta đỡ bà xuống xe. Vợ ông Hiển bước tới, mở gói giấy báo, đặt vào tay bà một cái khăn vuông đen, gấp tư, đã bạc mép, góc khăn sẫm lại một vệt.

Bà Khúc không nhìn khăn. Bà đưa nó lên mũi, ngửi rất lâu. Rồi bà gật đầu.

"Củ nâu. Hai lần nước. Tôi nhuộm."

Bà quay sang ông Hiển. Mọi người tưởng bà sẽ chửi, sẽ đánh. Bà chỉ nói một câu, giọng rất khẽ:

"Ông giữ nó mười bốn năm, ông có ngủ được không?"

Ông Hiển quỳ xuống chiếu. Ông không trả lời.

Chiều hôm ấy ông Hiển tự đạp xe lên công an huyện. Người ta ghi lời khai, đến cả tháng. Việc đã quá lâu, đoạn dây đưa đi năm xưa không còn, người chết không còn để khám. Ông không phải đi tù. Huyện kỷ luật ông, đuổi khỏi ngành văn hoá. Năm sau, vợ chồng ông bán nhà, lên Hà Nội ở với con. Người ta bảo năm 1998 ông mất ở đấy, đám không đưa về quê.

Tối ấy, thầy Lảng làm lễ giải oan cho cô Thắm ở đình.

Người ta khiêng bố tôi đến bằng xe cải tiến, đặt nằm trên chiếu ngay dưới chân giàn. Bà Khúc ngồi bên đầu ông, cầm cái khăn mỏ quạ. Ông Tửu thắp ngọn măng-sông, treo lên giàn, lần cuối.

Thầy Lảng khấn rất lâu. Khấn xong, ông Tửu trèo lên giàn, mang theo cuộn dây chão năm 1979. Ông buộc nó vào góc trái gác chuông, một cái nút thật, chắc, buộc bằng tay phải. Rồi ông tháo ra, cuộn lại, mang xuống, đặt lên mâm lễ cùng vàng mã.

Bà Khúc cúi xuống, đội cái khăn mỏ quạ lên đầu bố tôi. Bà buộc nó ra sau gáy, cẩn thận như buộc cho con gái trước giờ lên chiếu.

Bố tôi mở mắt. Ông nhìn bà Khúc. Giọng cô Thắm lúc ấy rất nhỏ, như vọng từ xa lắm.

"U ơi. Con về rồi. U đừng đợi cơm."

Bà Khúc gật đầu, nước mắt chảy xuống con mắt đục. Bà tháo cái khăn ra khỏi đầu bố tôi, ôm vào ngực.

Thầy Lảng đốt vàng mã cùng cuộn dây chão ngoài sân. Lửa bốc lên cao, khói bay về phía biển. Ngọn măng-sông trên giàn xì xì một lúc, rồi lụi dần, lụi hẳn. Mùi dầu hoả tan đi, chỉ còn mùi khói giấy và mùi cói ẩm.

Bố tôi ho. Một tràng ho khùng khục, dài, rồi ông ngồi dậy, chống tay xuống chiếu. Ông nhìn quanh, ngơ ngác. Ông thấy u. Ông thấy tôi. Ông đưa tay áo lên quệt miệng.

"Hoà ơi. Khát."

U tôi đưa bát nước. Ông uống ừng ực, uống hết, rồi khà một tiếng. Tôi chưa bao giờ nghe một tiếng khà nào hay đến thế.

Bố tôi trở lại, nhưng không trở lại nguyên vẹn. Giọng ông khàn hẳn đi, khàn mãi. Ông nói được, nhưng không nhại được ai nữa, không lên được giọng the thé của con Nô, không xuống được giọng ồm ồm của ông xã trưởng. Đoàn đã tan. Có tan hay không thì ông cũng không đóng hề được nữa.

Ông về dệt chiếu với u. Lớn lên, tôi dệt với ông. Nhà tôi đến giờ vẫn sống bằng cói.

Bà Khúc mất năm 1997. Trước khi mất, bà dặn người nhà mang cái khăn mỏ quạ sang Đồng Cói, cho thằng Chút. Bố tôi cất nó trong cái hòm gỗ ở đầu giường, bọc trong giấy dầu.

Mỗi năm, đến ngày giỗ cô Thắm, bố mang cái khăn ra hiên phơi gió một buổi, rồi gấp lại cất đi. Bố tôi giờ đã ngoài bảy mươi. Ông cầm đũa tay phải, cầm liềm tay phải, buộc go dệt chiếu tay phải.

Chỉ có lúc gấp cái khăn ấy, tôi để ý, ông gấp bằng tay trái.