Chương 10: Cuốn vở chép vai
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Tôi ngồi đọc cuốn vở ấy bên cạnh bố, dưới ngọn đèn dầu, trong lúc u chạy đi gọi y tá. Tôi đọc đến hết. Tôi mười hai tuổi, có những chữ tôi không hiểu ngay. Phải đến nhiều năm sau, đọc lại, tôi mới hiểu hết.
Mấy trang đầu là chữ bố tôi, ghi như người ta ghi sổ.
Ông viết về sáng hôm tháng Mười năm 1979. Hôm ấy ông đến đình sớm để trải chiếu tập, trời còn chưa sáng hẳn. Ông thấy ông Hiển ở trên giàn, ngồi ở góc phía cột trái, cúi xuống buộc một nút dây. Ông Hiển giật mình, rồi cười, bảo kiểm tra dây cho chắc. Bố tôi tin. Ông là thằng hề hai mươi tám tuổi, ông Hiển là đoàn phó, ông không có lý do gì để không tin.
Ba giờ sau, Thắm đứng trên gác chuông hát đoạn trêu chú tiểu. Tấm ván lật.
"Mình bế nó chạy ra cổng đình," ông viết. "Nó còn mở mắt. Nó nhìn mình, nó không nói được. Ra đến cổng thì nó thôi thở."
Chiều hôm ấy, ông thấy sợi dây ở góc trái buông thõng từ giàn xuống, đầu dây còn nguyên, chỗ buộc nhăn nhúm. Ông hiểu. Ông đi tìm ông Hiển, gặp ở sau đình.
Ông chép lại lời ông Hiển, từng chữ: "Mày thấy tao trên giàn thì sao? Mày là thằng hề. Mày nói ra, người ta cười. Rồi tao cho mày ra khỏi đoàn. Vợ mày đang chửa, mày về đi cắt cói."
Năm ấy u tôi có mang lần đầu. Đứa bé ấy không giữ được. Hai năm sau mới có tôi.
Bố tôi im. Ông viết: "Mình im mười bốn năm. Mỗi lần lên chiếu đóng hề, người ta cười, mình nghĩ hắn nói đúng. Mình nói gì người ta cũng cười."
Rồi đến tháng Tám năm 1993. Huyện báo giải thể đoàn, huyện chọn vở Quan Âm Thị Kính.
Trang ấy ông viết rất to, gạch dưới hai lần: "Mặt mình nói không ai tin. Thì mượn mặt Thắm."
Những trang sau là kế hoạch. Từng dòng, từng bước, như ông vẫn chép một vai hề.
Tập giọng ở bãi cói, chỗ không ai nghe. Hạ hơi ở ngực, đẩy lên mũi, giữ cổ họng mở. Thắm hay nghiêng đầu sang trái khi hát. Thắm đi gót không chạm đất. Thắm gọi người lớn hơn là chị, là anh.
Ngã ở cảnh xã trưởng xử Thị Mầu. Ngã kiểu hề, thu cằm, lăn vai. Mở mắt nhìn lên giàn. Đội khăn mỏ quạ. Gọi Hoà là chị. Hỏi đường về Cồn Nhì.
Nhắc đến nút thứ ba trước mặt hắn. Đòi gác chuông. Đóng Thị Mầu trên gác chuông, trước mặt huyện, trước mặt cả làng. Nói ra.
"Diễn xong thì ra vai. Rửa mặt, thắp hương tổ, vái ba vái. Là xong."
Có mấy dòng nhỏ hơn, viết vội ở lề. "Không nói với Hoà. Hoà không biết nói dối." Rồi: "Thằng Tâm nghe thấy mình tập ngoài bãi. Phải cẩn thận."
Một dòng khác: "Thằng Tâm ngồi sát chiếu. Đã dặn rồi mà nó không nghe. Ngã phải lệch sang trái một chút."
Tôi đọc đến đấy thì phải dừng, lấy tay áo lau mắt. Cú ngã đêm ấy cách tôi chưa đầy hai sải tay. Bố đã ngã lệch đi vì tôi.
Từ những trang sau, chữ bố tôi bắt đầu đổi.
Có một trang viết sau đêm ông Tửu sửa câu ngân: "Anh Tửu bảo Thắm ngân dài hơn hai nhịp. Mình không biết. Mình ngân theo. Lạ là ngân xong, cổ không khản."
Có một trang viết sau cái đêm tôi nghe ông quỳ trong đình. "Xin phép Thắm. Mượn giọng, mượn tên, ít hôm thôi. Giàn kêu một tiếng. Chắc là Thắm cho."
Tôi nhìn dòng ấy rất lâu. Thắm ơi, cho anh mượn ít hôm. Không phải ông van xin con ma buông tha mình. Ông xin phép người chết, cho ông mượn cái mặt của cô mà nói thay.
Rồi một trang viết sau đêm ngoài bãi cói. Chữ run, có vết máu khô ở góc giấy. "Không biết câu dưới. Mình chưa nghe bao giờ. Thắm không dạy."
Trang tiếp theo, chỉ có hai dòng. "Mấy đêm nay có lúc mình ngủ mà Hoà bảo mình hát. Sáng dậy tay trái mỏi như vừa buộc dây." Rồi: "Mai diễn xong là ra vai. Phải ra được."
Đó là trang cuối cùng bằng chữ bố tôi.
Tôi lật sang trang sau. Trang ấy không trắng.
Chữ trên trang ấy không phải chữ bố tôi. Nét chữ tròn, nhỏ, nghiêng ngược về bên trái, như chữ của người viết bằng tay trái. Mực tím, loại mực học trò hồi những năm bảy mươi, mà nhà tôi không có lọ nào. Ở đầu trang là hai câu hát.
"Cồn Nhì cói mọc ngang lưng, Con đi cắt cói, u đừng đợi cơm."
Dưới đó là một dòng.
"Anh Chút cho em mượn lại ít hôm. Em xong việc em trả."
Tôi gập cuốn vở lại. Tôi nhìn bố tôi nằm trên phản, mặt đỏ lựng vì sốt, mấy ngón tay trái vẫn co lại như cầm sợi dây. Tôi hiểu, lần đầu tiên trong đời, cái điều mà người lớn vẫn nói về vai diễn: diễn khéo quá thì không ra được.
Bố tôi đã mở cửa. Bố tôi đã mời cô vào. Bây giờ cô ở lại cho đến khi xong việc, và việc của cô thì bố tôi biết rõ hơn ai hết.
U về cùng y tá xã. Người ta tiêm cho bố một mũi hạ sốt. Tôi không đợi. Tôi nhét cuốn vở vào trong áo, chạy sang nhà ông Tửu, đập cửa.
Ông Tửu nghe tôi nói, không hỏi một câu nào. Ông mở kho, lấy cuộn dây chão trong hòm, quàng lên vai. Ông dắt chiếc xe đạp cũ ra, bảo tôi ngồi lên gióng.
Hai ông cháu đạp trong đêm sang Kim Đông. Gió biển thổi ngược, mang mùi muối và mùi dầu hoả lẫn vào nhau. Đến cổng nhà ông Hiển thì trời vừa sáng. Cổng mở. Trong sân, vợ ông Hiển đang ngồi trên bậc hiên, ôm một gói giấy báo cũ trong lòng.
Bà ngẩng lên nhìn chúng tôi, mắt đỏ hoe như thức suốt đêm.
"Tôi lôi cái hòm dưới gầm giường ra rồi," bà nói. "Ông nhà tôi bảo, sáng nay ông ấy ra đình."