☾ Truyện Ma Có Thật
← Vết chân tròn sau rừng khộp

Chương 12: Sợi lông đuôi

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Bà nhìn tôi chỉ trong một hơi thở. Rồi bà quay đi, bước thẳng về phía lối phát, nơi tiếng máy đang tới gần.

Người tên Hòa đã ra khỏi lều, súng trên tay, người kia lồm cồm bò dậy sau lưng. Hòa nhìn thấy bà. Tôi thấy rõ mặt hắn đổi màu, từ đỏ sang xám như tro bếp.

Hắn giương súng bắn. Một phát. Hai phát. Tiếng nổ dội vào vách le, chim chóc bay rào rào. Đạn đi xuyên qua thân bà như xuyên qua sương sớm.

Bà không dừng. Bà đứng chắn ngay miệng lối phát, hai tai xòe rộng, cái vòi cuộn lên trước ngực. Tiếng ù dâng lên mạnh tới mức tôi thấy nước đọng trên mặt trằng rung thành những vòng tròn nhỏ.

Hòa vứt súng, quay đầu chạy. Không chạy về lối phát. Chạy ngược ra mặt trằng. Người kia chạy theo. Được hơn chục bước, cả hai lún bùn tới đùi, càng vùng càng lún.

Tiếng máy xe dừng lại ngay bìa le. Có tiếng người hô. Không phải giọng Quảng của bọn chúng. Giọng A Đinh, rồi giọng anh Toàn, khàn đặc.

"Hiếu ơi. Hiếu."

Khi tôi đứng dậy khỏi mô đất, ở miệng lối phát không còn gì. Chỉ có một vết chân tròn mới tinh, lõm sâu, nước bùn đang từ từ rỉ vào.

Sau này đọc biên bản tôi mới biết hết. A Đinh chạy một mạch về làng, đưa thư cho anh Toàn ngay đêm ấy.

Anh Toàn không chờ huyện. Anh gọi công an, gom được mười mấy người, phục sẵn ở chỗ đường đất đỏ hết. Gần sáng, xe tải của Khiêm lên tới, chở theo một cái lồng sắt to bằng cái chuồng trâu và một hộp thuốc mê thú y. A Lịch chạy xe máy dẫn đường. Bị bắt cả ba, không kịp chống cự. Tiếng máy tôi nghe thấy là xe của công an chạy vào theo lối phát.

Công an khám kho của Khiêm ở Đăk Tô. Trong một cái thùng tôn dưới gầm cầu thang, họ tìm thấy bốn bàn chân voi đã phơi khô, khoét rỗng làm đôn ngồi. Một hũ cao xương nấu đặc, đen như nhựa đường. Một cái đuôi voi bọc ni lông, chưa kịp bán.

Lời khai của Khiêm và Hòa khớp với mọi thứ tôi đã thấy ở đầu nguồn. Chiều 14 tháng 3 năm 2011, chúng phục ở vũng nước, bắn con voi mẹ bốn phát để bắt con. Con chạy vào rừng le, chúng không theo kịp. Voi mẹ nằm dưới vũng ba ngày mới chết.

Sau đó chúng ở lại đầu nguồn, dựng giàn, đốt bếp, chặt chân, cắt đuôi, nấu xương. Năm nay có người bên kia trả giá cao cho một con voi con còn sống. Chúng quay lại, theo dấu Tuấn lên trằng.

Hố bẫy không cọc là để bắt sống. Tuấn rớt vào cái hố đào cho voi.

Tuấn được khiêng ra bìa rừng bằng cáng tre, rồi chở xuống huyện. Chân nó giữ được, nhưng đi tập tễnh cả đời. Hạt kỷ luật nó vì không báo vụ săn trộm năm trước. Nó nhận hết, không cãi câu nào. Hai năm sau nó xin chuyển về làm ở trung tâm cứu hộ Đăk Hơ Niêng, nơi người ta đưa con voi con về.

Ngày trung tâm lên đón, con voi con được tiêm thuốc an thần, kéo lên xe bằng tời. Cả làng Kon Rơ Pang ra đứng chật con đường đất đỏ. Lúc xe sắp chạy, con voi con tỉnh lơ mơ, quay đầu về phía tây, phía Đăk Wơ, cất một tiếng kêu trầm trong cổ. Mấy người già cúi mặt. Y Bia đứng sau lưng già A Pưl, lấy vạt áo che miệng.

Sau vụ án, già A Pưl xuống hạt xin lại cái đuôi. Anh Toàn đi lại với bên công an gần một tháng mới xin được.

Lễ cúng làm ở đầu nguồn, ngay trên khoảng đất đen trên bãi cát. Làng mổ một con heo, khiêng lên sáu ghè rượu. Đàn ông gõ chiêng suốt từ trưa tới tối. Già A Pưl quỳ xuống, đào một cái hố nhỏ giữa khoảng đất đen, đặt cái đuôi vào, rưới rượu, lấp đất. Trước khi lấp, ông rút ra mấy sợi lông. Một nhúm ông bện thành vòng, đeo vào cổ tay Tuấn đang chống nạng đứng bên cạnh. Một sợi ông đưa cho tôi.

"Người Kinh giữ một sợi. Bà biết mặt."

Tôi hỏi ông năm ấy ông có biết bà nằm ở đầu nguồn không. Ông gật.

"Biết. Không ai dám nói. Nói thì súng về làng." Ông nhìn xuống chỗ đất vừa lấp. "Bà không xin cho bà. Bà xin cho con."

Đêm ấy chúng tôi ngủ lại bên suối. Không ai đốt lửa. Không có tiếng ù. Côn trùng kêu tới sáng. Sáng ra, tôi vốc nước dưới vũng lên rửa mặt. Nước lạnh, trong, chỉ có mùi đá, mùi rêu.

Từ mùa khô năm sau, trâu Kon Rơ Pang lại xuống bãi Đăk Wơ ăn cỏ như cũ. Không ai thấy bóng đàn bà cao hơn cây nữa. Cái vệt bùn đỏ trên tường trạm, tôi không chà đi. Mưa mấy mùa mới bạc hết.

Tôi giữ trạm Đăk Rơ Wa thêm sáu năm rồi mới xin về gần nhà. Sợi lông già A Pưl đưa, tôi kẹp sau tấm thẻ kiểm lâm, trong cái túi nhựa của ví. Nó vẫn đen, vẫn cứng, uốn cong rồi thả ra là bật thẳng lại.

Năm 2016, tôi về Đăk Hơ Niêng thăm Tuấn. Nó dắt tôi ra bãi thả. Con voi ngày trước giờ đã cao hơn tôi, đang đứng tắm bùn. Tuấn gọi nó bằng một cái tên Xơ Đăng, nó không quay lại. Tôi đứng xa hàng rào, không gọi gì.

Con voi tự đi tới. Nó thò cái vòi qua hàng rào, quờ lên vai tôi, lần xuống ngực, dừng lại ở túi quần sau, đúng chỗ tôi để ví. Nó đứng yên ở đó, hít vào một hơi dài và sâu như ống bễ lò rèn. Rồi nó ngẩng đầu, quay về phía tây, và tôi nghe trong lồng ngực mình một tiếng ù rất khẽ, khẽ như ai đứng ở bìa rừng xa lắm, gọi vọng sang.