☾ Truyện Ma Có Thật
← Vết chân tròn sau rừng khộp

Chương 11: Con của bà

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Y Krông kéo tôi nằm xuống. Hai đứa bò qua mấy bụi le cuối cùng, nhích từng gang tay, cho tới khi trước mặt mở ra một khoảng trống.

Cái trằng rộng bằng hai sân bóng, trũng xuống giữa rừng le như một cái chảo. Mặt trằng là bùn xám lẫn nước đọng, cỏ năn mọc lởm chởm. Ven bờ, đất bị cày nát, lỗ chỗ những vết lõm lớn nhỏ, có chỗ đất bị đào bới thành hốc, như có ai đã đứng đó liếm đất, cạy đất suốt nhiều tháng. Mùi bùn mặn xộc lên mũi.

Ở bờ bên kia trằng, sát rìa le, có một cái lều căng bạt xanh. Bếp lửa trước lều còn bốc khói. Hai cái võng mắc dưới bạt, mỗi võng có một người nằm, một cây súng dựng bên cột. Tiếng ngáy vọng qua mặt bùn. Không thấy A Lịch.

Cách cái lều chừng hai chục bước là cái hố.

Nó lớn hơn hai cái hố kia nhiều. Trên miệng hố, bọn chúng gác ngang những cây gỗ tròn to bằng bắp chân, cột chặt bằng thứ dây thừng nilon mới tôi đã thấy dưới gầm nhà A Lịch. Tiếng thình thịch phát ra từ dưới đó. Đều đặn. Mệt mỏi. Rồi tiếng khóc bật lên, cao, mỏng, rồi gãy.

Tôi bò tới mép hố, nép sau một mô đất, nhìn xuống qua khe hai cây gỗ.

Dưới đáy hố là một con voi con.

Nó lớn cỡ một con nghé hai năm tuổi. Da nó xám, phủ một lớp bùn đỏ đã khô thành vảy. Trên đỉnh đầu và dọc sống lưng có lớp lông lởm chởm, đen, cứng.

Hai cái tai mỏng, rách mép, ép sát vào đầu. Cái vòi ngắn của nó buông thõng xuống đất, rồi cuộn lên, quờ quạng vào thành hố, như một bàn tay dò tìm. Nó lùi lại, rồi húc trán vào vách đất. Thình thịch. Đất rơi lả tả. Rồi nó ngửa đầu lên, há miệng, và tiếng khóc ấy bật ra. Tiếng con nít gọi mẹ.

Dưới chân nó, trên mặt bùn đáy hố, in đầy những vết chân. Tròn. Không ngón, không móng. Lòng vết có những đường vân nứt nhỏ chằng chịt như mặt ruộng khô. Chỉ nhỏ hơn. Nhỏ bằng cái mâm nhôm.

Tôi nằm đó, mặt áp vào đất. Trong đầu tôi, những thứ đã thấy suốt mấy ngày qua tự động xếp lại vào chỗ của nó, như những con bài người ta úp sấp nay lật ngửa từng con một.

Vết chân tròn to bằng cái nia dưới lòng suối. Bước chân dài bằng sải tay. Cái khối dài thả xuống đằng trước mặt, chạm đất, đung đưa. Cái váy đen rộng chấm đất là bốn cái chân to như bốn cột nhà. Tiếng ù trong lồng ngực. Vệt bùn đỏ quệt trên tường trạm, cao quá đầu người.

Sợi lông đen to như cước, cứng như sừng, mắc trên khung cửa sổ. Cái vòng lông trên cổ tay già A Pưl. Muối hột. Mía. Chuối. Thứ mềm mà nặng, nhám như bao bố ướt, đã hít hà túi áo ngực tôi, rồi nhấc cái nón khỏi đầu tôi.

Đàn trâu cả làng rống lên rồi không chịu ra bãi. Trâu sợ voi. Cả Tây Nguyên ai cũng biết trâu sợ voi.

Và người Kon Rơ Pang, như bao làng khác trong vùng, không bao giờ gọi tên con voi khi ở trong rừng. Họ gọi là bà.

Cái vệt cụt sẫm màu ở cuối thân bà. Bọn chúng đã chặt mất cái đuôi.

Y Krông bò tới nằm cạnh tôi. Nó nhìn xuống hố, rồi nhìn tôi. Nó không ngạc nhiên. Cả làng biết. Chỉ có tôi là người Kinh, không biết.

Lúc ấy tiếng ù trở lại.

Ban ngày, nắng chang chang trên mặt trằng. Côn trùng tắt. Một con chim chèo bẻo trên ngọn le vụt bay đi. Mùi tanh lan tới, đè lên cả mùi bùn mặn. Ở rìa le phía đông, ngay chỗ những vết chân tròn chằng chịt nhất, bà bước ra.

Dưới ánh mặt trời, lần đầu tiên tôi nhìn thấy bà đúng như bà là. Một con voi cái lớn, cao gấp đôi người, xám như tro. Viền thân vẫn mờ như khói, nắng xuyên qua được. Hai cái tai lớn như hai tấm phên, rách lỗ chỗ ở mép. Cái vòi dài chạm đất. Trên vai, trên sườn có bốn đốm sẫm, bốn cái lỗ to bằng nắm tay, đen như than. Phía sau, chỗ cái đuôi, chỉ còn một vết cụt.

Bà bước qua mặt trằng. Bùn không lún. Nước không gợn. Bà đi ngang qua cái lều, qua sát hai cái võng. Hai người trong võng vẫn ngáy.

Bà dừng ở miệng hố. Dưới đó, voi con bỗng im bặt.

Bà hạ cái vòi xuống, luồn qua khe giữa hai cây gỗ. Voi con ngẩng đầu, giơ cái vòi ngắn của nó lên. Hai cái vòi chạm vào nhau. Tôi thấy rõ vòi con xuyên qua vòi mẹ, như xuyên qua một làn khói, nhưng nó không rụt lại. Nó cuộn quanh chỗ ấy, giữ lấy, khẽ kêu một tiếng nhỏ trong cổ, không còn là tiếng khóc.

Y Krông chắp hai tay trước ngực, cúi đầu xuống bùn, miệng lẩm nhẩm một câu tiếng Xơ Đăng. Tôi chỉ nghe ra được một chữ. Yă. Bà.

Rồi từ phía nam, xa xa ngoài bìa rừng le, vọng lại tiếng máy. Xe máy, mấy chiếc. Và trầm hơn, nặng hơn, tiếng một cái xe tải đang gào ga leo dốc đất.

Trong lều, một người bật dậy khỏi võng, chộp lấy cây súng.

"Dậy, dậy. Ông Khiêm lên rồi. Lên sớm."

Bà ngẩng đầu khỏi miệng hố. Hai cái tai lớn xòe rộng ra. Bà quay lại, nhìn thẳng về phía bìa le, nơi tôi đang nằm.