Chương 1: Xóm phu giữa lô cao su
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Tôi kể chuyện này khi đã ngoài sáu mươi, tóc bạc gần hết. Có những chuyện của năm mười bảy tuổi tôi quên sạch, tên mấy người cùng tổ có khi phải nghĩ một lúc mới ra. Nhưng tiếng cái võng ấy thì tôi chưa quên. Kẽo kẹt, kẽo kẹt, chậm như người ta đưa em ngủ trưa.
Cuối tháng Chạp năm 1977, xã tôi ở Gò Dầu gọi dân quân lên biên giới. Tôi mười bảy, vừa nghỉ học lớp mười, được xếp vào tổ tải đạn và cứu thương. Tổ có sáu đứa con gái, tổ trưởng là chị Ba Nguyệt, hai mươi bốn tuổi, từng học lớp y tá cấp tốc ở huyện. Đứa nhỏ nhất là con Lụa, mười sáu, người ốm nhom, cái gì cũng sợ.
Đêm đầu chiến dịch tôi bị thương. Chuyện đêm đó tôi nhớ lờ mờ, như nhìn qua một tấm kính đọng hơi nước. Tôi gánh hai thùng đạn chạy theo hàng, trời tối, chân hụt, rồi rớt xuống một chỗ sâu. Trán tôi đập vào cái gì cứng. Tôi nhớ mùi mủ cao su chua chua, mùi khói thuốc rê. Tôi nhớ có một bàn tay. Hết.
Sáng ra người ta tìm thấy tôi nằm trên mép cái mương xói của sở cao su cũ, đầu đã băng. Trên trán tôi còn cái thẹo hình lưỡi liềm tới bây giờ.
Mấy hôm sau, khi đầu bớt choáng, tổ tôi theo trung đội dân quân dời lên Lô Bảy. Đó là một xóm phu của sở cao su thời Tây, nằm lọt giữa rừng cao su bỏ cạo từ năm bảy lăm. Phía bên kia vừa rút khỏi đó chừng một tuần. Từ xóm ra tới con lạch cạn cuối lô, nơi đặt trận địa, đi bộ chừng nửa tiếng theo một đường mòn đất đỏ.
Xóm có hai dãy nhà phu xây gạch, mái ngói ống, cửa sổ chấn song sắt gỉ. Phần nhiều sập mái. Tổ con gái tụi tôi ở căn đầu dãy, còn nguyên mái, nền xi măng nứt chân chim. Đêm nằm trên tấm đệm cói, nghe lá cao su khô rụng lộp độp trên ngói như mưa mà không phải mưa.
Mùa khô ở lô cao su lạ lắm. Cây trút lá hết, chỉ còn thân xám bạc đứng thẳng hàng tít tắp, nhìn đường nào cũng giống đường nào. Lá khô phủ đất dày tới mắt cá, bước một bước kêu răng rắc. Ban trưa nóng hầm hập, mà khuya lại lạnh, sương xuống ướt cả mái tóc.
Trong xóm còn một người không chịu đi. Ông Tư Lạc, sáu mươi mấy tuổi, cạo mủ cho sở này từ hồi còn trai. Ông ở một mình trong căn cuối dãy, nuôi một con chó vàng cụt đuôi, ngày ngày đi đặt bẫy chim cu. Ông gầy mà dai, hai bàn tay đen bóng, móng nứt, mùi mủ ngấm vào da không tắm nào sạch.
Chiều đầu tiên ông đứng dựa cửa nhìn tụi tôi khiêng đồ vô, nói với chị Nguyệt:
"Ở thì ở, mà tối đừng ra đầu xóm nghen mấy con."
Chị Nguyệt hỏi sao vậy ông. Ông nhổ bã thuốc, nói không sao, ở đó có rắn. Rồi ông quay vô.
Đầu xóm là chỗ con đường đất đỏ từ lộ chui vào. Hai bên đường có hai gốc cao su già nhất lô, thân to cỡ một vòng tay người lớn, vỏ sần sùi những đường cạo cũ chồng chéo như vết roi. Hai gốc cách nhau chừng ba bước chân. Đúng cỡ mắc một cái võng.
Đêm đó tôi không ngủ được vì vết thương trên trán giật giật. Mấy đứa kia ngáy đều. Ngoài trời không có gió. Lá cao su khô rớt thưa dần rồi ngưng hẳn. Tiếng dế dưới nền gạch cũng tắt từng con một, như có ai đi ngang qua từng chỗ mà bảo im.
Rồi tôi nghe tiếng võng.
Kẽo kẹt. Một nhịp. Kẽo kẹt. Tiếng dây cọ vào vỏ cây, khô, rít, đều đặn. Thứ âm thanh mà con nít miền Nam đứa nào cũng nghe từ hồi nằm nôi. Ở nhà tôi, má tôi mắc võng giữa hai cây cột hàng ba, trưa nào cũng đưa thằng em út, tiếng cũng y như vậy.
Tôi nằm im, đếm. Nhịp không nhanh không chậm. Có lúc ngưng một chút, như người nằm võng thò chân xuống đất đẩy cái nữa.
Tôi chồm dậy, lần ra cửa sổ. Trăng hạ tuần mới mọc, sáng đục. Từ căn tụi tôi nhìn ra đầu xóm chừng năm chục thước. Hai gốc cao su đứng đen thui. Giữa hai gốc không có gì. Không võng, không người. Chỉ có khoảng trống và sương bay lờ đờ.
Mà tiếng võng vẫn kêu. Rõ hơn lúc tôi còn nằm.
Tôi thấy lạnh dọc sống lưng, lạnh lên tới gáy. Tôi quay vô, chạm tay vào vai con Lụa nằm sát bên. Nó cựa mình, mở mắt. Tôi chưa kịp nói gì, nó đã thì thào:
"Chị Út nghe hả?"
Nó nghe từ trước tôi. Nó không dám kêu ai.
Hai đứa nằm ôm nhau tới lúc gà rừng gáy đâu đó ngoài bìa lô. Tiếng võng thưa dần, rồi im. Sương đọng trên chấn song nhỏ giọt xuống bậu cửa.
Sáng ra, lúc cả tổ còn ngồi nấu nồi cháo, tôi một mình đi ra đầu xóm. Tôi tự nhủ là đi rửa mặt ở cái lu nước mưa gần đó.
Trên thân hai gốc cao su, ngang tầm ngực tôi, có một vòng vỏ cây bị mài nhẵn bóng. Không phải vết dao cạo. Là vết dây cột lâu ngày, cọ đi cọ lại mà mòn. Vòng trên gốc này với vòng trên gốc kia ngang nhau như đo bằng thước.
Tôi đứng nhìn một hồi. Rồi tôi thấy một thứ làm tôi bước lùi.
Ngay bên dưới vòng mòn, trên gốc cây bên trái, có một đường cạo mới. Một đường xiên, mảnh, sạch, chạy vòng nửa thân cây. Từ đường cạo đó, mủ cao su đang rỉ ra, trắng đục như sữa, chảy thành một vệt dài xuống tới gốc, đọng lại trên lớp lá khô.
Cái lô này bỏ cạo đã ba năm. Không ai cạo nó cả.