Chương 2: Chiếc khăn trên đường mòn
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Tôi không kể với ai về đường cạo mới. Tôi lấy chân hất lá khô phủ lên vệt mủ dưới gốc, rồi đi về ăn cháo. Lụa nhìn tôi. Tôi lắc đầu.
Việc của tổ tôi mỗi ngày là gánh đạn, gạo và nước từ xóm ra trận địa ở con lạch cuối lô, chiều gánh thương binh hay đồ hư về. Đi sớm lúc trời còn mờ, khi phía bên kia chưa bắn cối. Trung đội trưởng dân quân là anh Sáu Đực, ba mươi lăm tuổi, người Trảng Bàng, cụt mất ngón trỏ bàn tay trái từ hồi đánh Mỹ. Anh nói ít, đi đầu, ai bước lệch khỏi đường mòn là anh quay lại nhìn một cái, không cần la.
"Đường này công binh dò rồi. Bước theo dấu chân tao. Đứa nào ngó lơ là tao đuổi về."
Sáng hôm đó tụi tôi đi tám người, sáu đứa con gái, anh Sáu với thằng Tấn. Tấn mười tám tuổi, con nhà nông ở Bến Cầu, cõng cái ba lô đạn to gần bằng người. Tôi đi thứ ba, sau Tấn, hai thùng đạn trên đòn gánh tre cọ vào vai còn đau.
Đường mòn chạy giữa hai hàng cao su, thẳng như kẻ chỉ, đất đỏ lún phún lá. Sương chưa tan. Tiếng chân tám người kêu rào rạo, tiếng thở, tiếng đòn gánh kẽo kẹt. Tiếng kẽo kẹt đó làm tôi rùng mình mà không nói được vì sao.
Đi được chừng hai phần ba đường thì anh Sáu dừng. Anh giơ bàn tay cụt ngón lên. Cả hàng đứng lại.
Giữa đường mòn, ngay trước mũi dép anh Sáu, có một cái khăn rằn.
Khăn được gấp vuông vức, bốn góc bẻ khít, nhỏ cỡ bàn tay xoè, đặt ngay ngắn trên lớp lá khô như người ta đặt khăn lên bàn thờ. Sương thấm ướt, mặt khăn sẫm lại. Ô khăn nhỏ, màu đỏ đã bạc gần ra màu gạch non, xen ô trắng ngà. Vải dày, sợi to, sờ chắc tay.
Tấn nói khăn của du kích mình bỏ quên. Anh Sáu không trả lời. Anh ngồi xổm xuống, không đụng vào khăn, mà nhìn đất xung quanh. Rồi anh lấy cây que gạt nhẹ lớp lá khô bên mép khăn.
Dưới lớp lá, đất đỏ có một chỗ hơi lõm, màu sẫm hơn đất bên cạnh, như mới bị xới. Ở giữa chỗ lõm, ló lên một cái nắp tròn bằng kim loại xám, cỡ miệng chén ăn cơm.
Anh Sáu đứng lên rất chậm. Giọng anh đều đều, không lớn hơn lúc thường:
"Mìn. Lui lại. Bước ngược theo dấu cũ. Từ từ."
Tụi tôi lui. Con Lụa đi cuối cùng, tôi nghe nó khóc thút thít mà không dám khóc to. Anh Sáu cắm một cành cây khô có buộc miếng vải trắng cách cái khăn năm bước, rồi dẫn cả hàng đi vòng qua hàng cao su bên cạnh, từng bước một, mất gần một tiếng mới ra tới lạch.
Trưa đó tổ công binh của huyện vô gỡ. Anh công binh trẻ cầm cái mìn trên tay, lắc đầu nói nó là loại mìn ép, ai đạp lên là cụt giò, nặng thì chết. Nó được gài sau đợt dò sáng hôm qua. Tức là đêm qua có người của phía bên kia lẻn vô gài. Và cũng đêm qua, có người đặt cái khăn lên trên nó.
Chiều tụi tôi gánh thương binh về, cả xóm đã biết chuyện. Tối đó ngồi quanh bếp, ai cũng nói về cái khăn.
Chị Nguyệt nói chắc có anh em du kích mình đi tuần thấy, đánh dấu giùm rồi đi luôn. Anh Sáu lắc đầu. Anh nói đêm qua không ai đi tuần đoạn đó, anh hỏi cả trung đội rồi.
Con Lụa ngồi bó gối, nói nhỏ:
"Hổng phải người sống đâu. Lô này hồi trước đánh lớn. Chắc có anh bộ đội hy sinh ở đây, ảnh linh, ảnh chỉ đường cho mình."
Không ai cãi nó. Mấy chị lớn gật gù. Một chị người Hòa Thành, nhà có đạo Cao Đài, nói phải lập cái trang mà cúng. Cả tổ hưởng ứng liền. Ở chỗ đánh nhau, người ta tin vào bất cứ thứ gì giữ cho mình còn đủ hai chân.
Chỉ có ông Tư Lạc là không nói gì. Ông ghé qua xin lửa châm thuốc, nghe chuyện, nhìn cái khăn chị Nguyệt treo trên cây đinh vách. Ông nhìn lâu. Rồi ông bỏ đi về căn cuối dãy, không hút điếu thuốc vừa châm.
Đêm đó tôi lại nằm sát cửa sổ. Cái khăn treo trên vách, cách đầu tôi chừng hai sải tay. Trong bóng tối tôi không thấy nó, nhưng tôi ngửi thấy.
Khăn đã khô, mà mùi vẫn còn. Mùi mủ cao su chua chua, lẫn mùi khói thuốc rê hăng hắc.
Tôi nằm cứng người. Đó là mùi của cái đêm tôi rớt xuống mương. Mùi của bàn tay mà tôi chỉ nhớ được có vậy. Tôi chưa từng kể mùi đó cho ai, cả chị Nguyệt cũng không.
Ngoài đầu xóm, tiếng võng lại bắt đầu. Kẽo kẹt. Kẽo kẹt.
Lần này nó đưa nhanh hơn đêm trước, mạnh hơn, như người nằm trên đó đang bồn chồn không yên.