Chương 12: Chiếc khăn gấp vuông
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Tôi về lại Gò Dầu cuối năm 1979, đi học tiếp, rồi đi dạy cấp một ở trường xã. Cái khăn ô đỏ tôi cất trong cái rương gỗ của má, dưới mấy bộ áo dài. Mỗi lần mở rương, nó vẫn nằm đó, gấp vuông. Tôi không nhớ mình có gấp nó lần nào.
Con Lụa hết sốt sau năm ngày ở trạm xá, về lấy chồng ở Bến Cầu, đẻ ba đứa. Nó nói nó không nhớ gì về câu hát. Chị Nguyệt làm y sĩ ở trạm xá huyện tới lúc về hưu. Tấn chạy xe lam đường Gò Dầu đi Mộc Bài, lần nào chở tôi cũng không lấy tiền. Anh Sáu Đực mất năm 1985 vì vết thương cũ ở phổi. Tới đám anh, tôi mới biết anh đã nói với vợ, anh có nợ một người bên kia một điếu thuốc.
Ông Tư Lạc mất năm 1984, trong căn cuối dãy. Con Vàng chết trước ông một năm. Người ta chôn ông ở bìa Lô Bảy.
Năm 1983, nông trường cao su quốc doanh về tiếp quản sở cũ. Năm 1989, tôi nghe tin nông trường sắp ủi Lô Bảy để trồng lại giống mới. Tôi đạp xe lên, kêu chị Nguyệt đi cùng.
Xóm phu đã sập gần hết. Cái gốc cây bên trái mục nát, chỉ còn một khoanh gỗ đen thui ngang mặt đất. Cái cọc anh Sáu cắm đã mất. Cây bên phải vẫn đứng. Những đường cạo năm xưa đã liền thành những vết sẹo lồi, xiên từ phải xuống trái. Chỗ vòng mòn bóng giờ là một vòng vỏ dày cộm, như vết thẹo trên trán tôi.
Đội trưởng đội khai hoang là người từng cạo mủ chung với ông Tư. Nghe tôi kể, anh cho hai người đào giúp, đào bằng tay, bằng bay, không dùng xà beng. Chị Nguyệt quỳ dưới hố, mang găng, gỡ từng lớp đất.
Bôra nằm co, nghiêng về phía cây bên phải, như người nằm võng ngủ quên. Xương nhỏ. Nhỏ hơn tôi tưởng. Bàn tay phải khép lại. Trong lòng bàn tay còn một nhúm sợi nâu khô, vụn ra khi chị Nguyệt chạm vào. Thuốc rê của Thol.
Tôi không mời thầy cúng của mình. Tôi đạp xe xuống một ngôi chùa Khmer ở Tân Biên, xin sư cả. Sư già nghe xong, không hỏi bên này bên kia. Sư cho đem hài cốt về chùa, tụng kinh ba ngày, rồi hỏa táng theo phong tục bên đó. Tro cốt để trong một cái hũ đất nung nhỏ, màu đỏ gạch, nắp có núm tròn.
Tờ giấy quyến ông Tư viết năm xưa đã ố vàng, chữ than gần mờ hết. Tôi nhờ mấy người buôn đường thốt nốt ở chợ biên giới Xa Mát hỏi giùm. Hỏi gần hai năm. Có người nói xóm đó tan rồi. Có người nói bà má chết rồi. Tôi vẫn gửi lời.
Tháng Hai năm 1991, giữa mùa khô, có người đạp xe tới trường kêu tôi. Ở chợ Xa Mát có một bà già bên kia hỏi tìm cô giáo Thơm.
Bà ngồi dưới mái hiên một sạp bán đường thốt nốt, nhỏ thó, lưng còng, mặc xà rông bạc màu, cổ quấn một cái khăn ô đỏ y hệt. Ngồi cạnh bà là một cô gái chừng hai mươi, mắt to, đen, mở lớn. Tôi nhìn cô gái mà đứng sững. Cặp mắt đó tôi đã thấy hai lần, một lần dưới mương, một lần trên võng.
Bà tên Sôkhim. Cô gái là em út của Bôra, đứa em nó hát ru mỗi sáng đi cạo mủ về.
Tôi đặt cái hũ đất nung vào tay bà. Bà ôm lấy, áp má vô nắp hũ, không khóc thành tiếng. Rồi tôi đưa con dao cạo mủ cán quấn xơ thốt nốt. Bà miết ngón cái lên cán dao, đúng như Thol miết năm nào.
Sau cùng tôi đưa cái khăn.
Bà cầm khăn lên, lật tìm một góc. Ngón tay bà dừng ở chỗ sợi bị sút. Cô gái dịch cho tôi bằng thứ tiếng Việt lơ lớ học ở chợ.
"Má nói chỗ này má dệt hư. Má tính dệt lại. Mà lính tới bắt, nó giành lấy cái khăn này mang đi, nói hư chút xíu có sao."
Bà trải cái khăn ra trên đùi, rồi gấp lại. Gấp đôi, gấp tư, bẻ bốn góc vô cho khít, vuốt phẳng bằng lòng bàn tay. Cái động tác ấy tôi nhìn mà lạnh người. Cô gái nói nhỏ, ở nhà má dạy anh hai gấp đồ như vậy từ nhỏ, áo quần gì anh cũng gấp vuông, má la hoài mà không bỏ. Cô nói thêm, hồi đó anh hai đi cạo lô xa thì mắc võng giữa hai gốc cây nằm chờ trời sáng, đêm nào cũng hát cho cây nghe.
Tôi xin trả cái khăn cho bà. Bà lắc đầu. Bà đặt cái khăn đã gấp vào hai tay tôi, ấn xuống, giữ tay tôi lại trong tay bà một lúc. Bà nói một câu. Cô gái không dịch. Cô chỉ nói, má nói khăn đó anh hai cho cô rồi.
Bà về bên kia trong buổi chiều đó, ôm cái hũ, đi bộ qua cổng chợ, không ngoái lại. Cô gái đi sau, khe khẽ hát. Câu hát ru về mủ trắng chảy đầy chén.
Năm nay tôi sáu mươi hai tuổi. Cái khăn vẫn nằm trong rương. Ô đỏ đã phai gần ra màu hồng đất, chỗ sợi sút ở góc tưa thêm một chút.
Có năm tôi cố tình vo nó lại, nhét xuống đáy rương. Có năm tôi trải nó ra, cho nằm nhăn nhúm. Mùa mưa thì nó cứ nằm y như vậy. Nhưng cứ tới mùa khô, khi cây cao su ngoài lộ trút lá, sáng nào đó tôi mở rương ra, nó lại nằm trên cùng.
Gấp vuông vức. Bốn góc khít. Và lúc nào cũng hơi ẩm, thoang thoảng mùi mủ cao su chua chua.