☾ Truyện Ma Có Thật
← Võng đưa giữa lô cao su

Chương 11: Người tù mười sáu tuổi

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Tốp bộ đội dừng lại nghỉ trong xóm chờ xe. Họ cho thằng nhỏ ngồi dưới mái hiên căn nhà phu đầu dãy, tay vẫn trói phía trước bằng sợi dây dù. Nó ngồi bó gối, cúi gằm, mắt cứ liếc ra cái cây nằm đổ ngoài đầu xóm.

Chị Nguyệt bưng ra một ca nước. Thằng nhỏ không dám nhận. Chị đưa sát miệng nó, nó mới uống, uống một hơi hết sạch, nước chảy ròng ròng xuống cằm. Gần nó tôi mới thấy nó nhỏ cỡ nào. Mười lăm, mười sáu là cùng. Hai gót chân nứt nẻ, dính những mảng mủ khô trắng xám.

Ông Tư đi tới. Ông xin anh bộ đội cho ông nói chuyện với nó, vì ông biết tiếng. Anh bộ đội gật. Ông ngồi xổm xuống trước mặt thằng nhỏ, nói một câu bằng thứ tiếng mềm, nhiều âm mũi. Thằng nhỏ ngẩng lên. Lần đầu nó nghe có người ở bên này nói tiếng của nó. Nó òa khóc.

Nó tên Thol. Nhà ở một xóm cạo mủ gần Mi-mốt. Đầu mùa mưa năm ngoái, lính về xóm gom con trai, đứa nào cao tới vai người lớn là bắt đi. Nó với thằng bạn hàng xóm bị bắt chung một bữa. Thằng bạn đó lớn hơn nó một tuổi, tên Bôra.

Ông Tư không nói gì. Ông đặt cái gói ni lông xuống trước mặt Thol, mở ra.

Thol nhìn con dao cạo mủ cán quấn xơ thốt nốt. Nó nín khóc. Nó nhìn lâu, rồi đưa hai bàn tay bị trói ra, chạm vô cán dao, miết ngón cái theo lớp xơ bện. Nó nói một chữ, rồi nói thêm một tràng dài.

Ông Tư dịch lại, từng đoạn một. Giọng ông khàn đặc, có lúc ngưng lâu tới mức tôi tưởng ông không dịch nữa.

Con dao đó của Bôra. Cán do chính tay nó quấn. Ở xóm, Bôra cạo mủ giỏi nhất đám con nít, mười bốn tuổi đã lãnh lô riêng. Nó cạo từ khi gà chưa gáy, cạo xong thì về hát ru đứa em gái út cho má đi chợ. Lúc bị bắt đi, nó chỉ mang theo con dao, cái võng lưới tự đan bằng xơ thốt nốt, và cái khăn má nó dệt cho. Khăn ô đỏ. Má nó dệt trên khung cửi dưới sàn nhà, dệt cả tháng.

Đêm đầu tiên đánh nhau, đơn vị tụi nó bị đẩy vô rừng cao su. Bôra lạc. Gần sáng nó mới quay về. Không còn khăn. Hai tay dính máu mà người nó không có vết thương nào.

Có một đứa trong đơn vị đã thấy. Đứa đó đi ngang mép một cái mương, nhìn xuống, thấy Bôra đẩy một đứa con gái mặc đồ đen bên này lên bờ, đẩy về phía bên này. Đứa đó không la lên lúc đó. Nó đợi về tới chỗ đóng quân mới báo.

Người chỉ huy cho lục người Bôra. Trong túi áo nó có một cái khăn rằn ô đen trắng. Khăn của bên này.

Tôi nghe tới đó thì ngồi phịch xuống bậc hiên. Chị Nguyệt quay qua nhìn tôi. Tôi đưa tay lên cổ mình, chỗ đêm đó tôi quấn cái khăn má mua ở chợ Gò Dầu.

Thol kể tiếp. Giọng nó đều đều, như đã kể chuyện này cho chính nó nghe cả trăm lần.

Lúc đó Lô Bảy đang trong tay tụi nó. Bôra mắc võng ở hai cây cao su đầu xóm từ tối hôm trước, vì nó nói cây ở đây giống cây nhà nó. Người chỉ huy cho trói nó vô chính hai cây đó. Trói hai cổ tay, mỗi tay một gốc, bằng dây võng của nó. Hỏi nó cả buổi. Nó không nói gì. Nó chỉ nói, con không có làm gì sai, đứa con gái đó cũng nhỏ như con.

Gần sáng, họ bắn nó. Một loạt ngắn.

Rồi họ bắt Thol với một đứa nữa đào hố ngay giữa hai gốc cây, chôn Bôra xuống đó. Chôn luôn con dao với dây trói, cho khỏi ai thấy. Cái võng thì người chỉ huy lấy đi. Cái khăn đen trắng thì bị đốt.

Thol nói, lúc lấp đất, nó có nhét vô tay Bôra một nhúm thuốc rê. Bôra mới tập hút, hút dở lắm, ho hoài. Nhưng trước khi đi đánh nó có nói với Thol, đánh xong về tao hút một điếu cho đã.

Ông Tư dịch tới đó thì ngưng hẳn. Ông cúi đầu, hai vai run. Con Vàng dụi mõm vô tay ông.

Không ai nói gì cả. Anh bộ đội dẫn giải đứng quay mặt đi chỗ khác. Anh Sáu đứng dựa cột hiên, điếu thuốc trên tay đã tắt mà anh không hay.

Tôi nghĩ tới gói thuốc rê vơi đi một nhúm trên tấm ván cúng. Nghĩ tới cái nút thắt hai đầu bẻ ngược, tới dấu ngón cái nhỏ trên cục mủ bít nòng súng.

Không phải anh bộ đội nào của mình hết. Là một thằng nhỏ bên kia. Thằng nhỏ đã tha cho tôi dưới mương, đã quấn khăn của má nó lên đầu tôi, rồi chết vì chuyện đó. Chết ngay giữa hai gốc cây mà tụi tôi đã lập trang thờ, đã thắp nhang, đã khấn anh bộ đội linh thiêng.

Tôi nhờ ông Tư hỏi Thol tên má Bôra, tên xóm. Thol nói. Ông Tư móc trong túi ra một tờ giấy quyến vấn thuốc, lấy đầu que diêm cháy viết lên đó, đưa cho tôi. Tôi gấp lại, nhét vô túi áo trong.

Xe tới. Bộ đội dẫn Thol đi. Lúc bước lên thùng xe, nó ngoái lại nhìn cái cây nằm đổ. Rồi nhìn tôi. Nó gật đầu một cái, rất nhẹ. Tôi không biết nó gật với ai.

Chiều đó anh Sáu đưa cho tôi cái khăn ô đỏ. Công binh đã gỡ nó trên thân cây đầu lộ, đem về để trên bàn của anh. Anh nói, "Của mày. Nó cho mày." Rồi anh đi.

Sáng sau trung đội dời lên tuyến trên. Đêm cuối ở Lô Bảy, không có tiếng võng. Tôi nhét cái khăn vô đáy ba lô, vo tròn, chèn dưới bộ đồ thay.

Sáng ra mở ba lô lấy đồ, cái khăn nằm trên cùng. Gấp vuông vức. Ướt sương.