Chương 1: Bộ sập gụ
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Làng tôi là Hạ Trạch, một làng mộc nằm sát đê sông Đáy, thuộc huyện Ý Yên, Nam Định. Đứng trên mặt đê nhìn sang bên kia là đất Ninh Bình, nhìn rõ cả mái nhà, cột điện. Làng nào ở Ý Yên cũng có người làm mộc, nhưng Hạ Trạch thì nhà nào cũng có xưởng. Sáng ra cả làng một tiếng máy bào, chiều về cả làng một mùi dầu bóng và mùn cưa.
Xưởng nhà tôi ở đầu xóm Đình, mái tôn, nền láng xi măng, rộng chừng một sào. Bố tôi đứng xưởng, tôi làm cùng bố từ năm mười sáu, năm 2011 thì tôi hai mươi tư tuổi. Ngoài hai bố con còn thằng Lộc, mười bảy tuổi, cháu họ bên ngoại, theo học việc được hai năm. Nhà tôi chuyên đồ thờ và sửa đồ cổ. Ai có cái tủ chè, cái sập, cái án gian mọt ăn, long mộng, đều mang về đây.
Trên vách xưởng, chỗ cao nhất, có cái trang thờ nhỏ. Thờ tổ nghề, và thờ ông nội tôi. Ông là Lương Văn Cẩn, thợ cả có tiếng của làng từ thời trước cách mạng, mất năm 2005. Ảnh ông là ảnh chụp lúc ông bảy mươi, mặt gầy, mắt sâu, môi mím như người đang ngắm mực. Bố tôi bảo ông ngắm mực cả đời nên mặt nó thành thế.
Tôi nhớ ông đi tập tễnh, chân phải ngắn hơn chân trái một đốt ngón tay. Hỏi thì ông bảo hồi trẻ ngã giàn đình. Tôi cũng nhớ ông cấm ngặt con cháu tắm sông Đáy. Cả làng trẻ con mùa hè nhảy ùm ùm ngoài bãi, riêng anh em tôi mà ra sông là về ăn roi mây. Ông sống tám mươi năm cạnh con sông ấy mà chưa từng qua đò sang bên kia một lần nào.
Bộ sập về xưởng vào một chiều tháng Mười. Một chiếc xe tải nhỏ biển Hà Nội đỗ ở đầu ngõ, không vào được vì ngõ hẹp. Người ngồi ghế phụ xuống trước. Anh chừng bốn mươi, áo sơ mi trắng sơ vin, tóc chải gọn, đi giày da mà vẫn lội qua vũng nước đầu ngõ không ngần ngại.
"Đây là xưởng nhà họ Lương phải không em?"
Tôi bảo vâng. Anh gật đầu, như thể đã đi hỏi nhiều nơi. Anh tên Quân, làm công ty vật liệu xây dựng trên Hà Nội. Anh nói anh vừa mua lại bộ sập này của một nhà giàu cũ ở thị xã Ninh Bình, nhà họ sắp phá đi xây lại. Anh muốn tháo ra, thay chỗ mọt, làm lại mộng, đánh lại nước, giữ nguyên dáng cũ.
Sáu người khiêng mới vào được. Đó là một bộ sập gụ liền hai tấm ván, mỗi tấm dày bảy phân, dài gần hai mét. Chân quỳ dạ cá, yếm chạm hồi văn và lá lật, gỗ lên nước đen như sừng. Lật lên xem thì gầm sập có vết thóc mốc, rơm mục, có tổ chuột. Chắc nhà kia lâu nay dùng nó kê thóc.
Bố tôi cúi xuống gõ khớp ngón tay vào mặt ván, nghe tiếng. Gõ một lượt quanh yếm. Bố bảo gỗ còn tốt, chỉ mọt ở đầu chân, mộng chân phía cuối bên phải bị long. Bố hỏi anh Quân biết sập đóng năm nào không. Anh bảo không rõ, chắc trước năm năm mươi.
Lúc bố tôi đi lấy thước, anh Quân đứng dưới trang thờ, ngước lên nhìn ảnh ông tôi. Nhìn lâu. Tôi đứng cạnh, thấy khó chịu mà không biết sao. Anh hỏi:
"Cụ là ông nhà mình à em? Cụ cũng làm thợ?"
"Vâng. Thợ cả ạ."
Anh không hỏi gì thêm. Anh đặt tiền cọc, để lại số điện thoại, dặn làm cẩn thận, không cần nhanh. Lúc ra đến cửa anh quay lại, nói như sực nhớ:
"À, có gì lạ trong sập thì em gọi anh nhé."
Tôi tưởng anh nói về mối mọt.
Xưởng nhà tôi có lệ tối phải có người ngủ lại trông đồ. Đồ khách gửi toàn đồ đắt, trộm vào khiêng một cái tủ chè là mất cả năm công. Thường tôi ngủ trên cái giường gỗ tạp kê ở góc. Tối hôm ấy trời trở rét đầu mùa, cái giường tạp thì ọp ẹp. Tôi nhìn bộ sập rộng thênh, ván gụ phẳng lì, và nghĩ cũng chẳng sao.
Tôi trải chiếu cói, mắc màn, nằm lên. Ván gụ lạnh qua lớp chiếu nhưng phẳng và chắc, nằm không một tiếng cót két. Ngoài kia ếch nhái kêu ran dưới mương. Tôi ngủ rất nhanh.
Tôi mơ thấy mình vẫn nằm trên sập, mắt vẫn mở, nhìn thấy cả nóc màn. Có cái gì đè lên ngực. Không nặng như người lớn. Nặng như một bao gạo nhỏ, ấm ấm ở giữa, lạnh ở hai bên. Tôi muốn ngồi dậy mà không nhấc nổi một ngón tay.
Rồi chân tôi lạnh. Lạnh từ gót lên, như hai bàn chân đang ngâm trong chậu nước giếng mùa đông. Lạnh tới mức tê buốt. Tôi nghe thấy tiếng nước. Không phải nước chảy. Tiếng nước vỗ nhẹ, lép bép, như sóng con liếm vào mạn thuyền.
Tôi giật mình tỉnh. Xưởng tối om. Ngoài mương ếch nhái im bặt từ lúc nào, im đến mức tôi nghe rõ tiếng tim mình. Ngực tôi nhẹ bẫng. Nhưng chân thì vẫn lạnh. Tôi thò tay xuống sờ. Hai bàn chân lạnh ngắt như vừa lội ruộng lên, ống quần phía dưới thì khô.
Tôi bật đèn pin, ngồi dậy, kéo chăn trùm chân, ngồi đến sáng không ngủ lại được. Gần sáng tôi ngửi thấy một mùi rất quen. Mùi bùn bãi sông lúc nước rút, tanh tanh, ngai ngái, mùi mà mùa lũ năm nào cũng tràn vào làng.
Sáng ra gấp chiếu, tôi mới thấy. Trên mặt ván gụ, ở cuối sập, chỗ hai bàn chân tôi để, có hai vệt ẩm tròn tròn, mỗi vệt to bằng lòng bàn tay một đứa trẻ. Gỗ gụ lên nước bao nhiêu năm, nước đổ vào chỉ đọng thành giọt rồi lăn đi. Vậy mà hai vệt ấy thấm hẳn vào thớ, sẫm màu, sờ vào vẫn lạnh.
Tôi lấy giẻ khô lau. Lau mãi không hết.