☾ Truyện Ma Có Thật
← Yểm trong mộng gỗ

Chương 11: Lễ gỡ mộng

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Bà nội tôi kể nốt hôm ấy, trong buồng, mưa phùn vẫn rơi ngoài hiên.

Bà về làm dâu nhà ông năm năm ba. Năm năm tư ông đi Ninh Bình, về thì què, bảo ngã giàn. Bà tin. Đến đêm rằm tháng Giêng năm sau ông về ướt đến ngực, sốt li bì nửa tháng, mê sảng gọi cậu Khoa, bà mới biết. Ông kể cho bà nghe hết, một lần ấy thôi, rồi bắt bà thề không nói với ai, kể cả con cháu.

Từ năm ấy, ông thôi làm đồ cho nhà giàu. Ông chỉ đóng đình, đóng chùa, đóng quan tài cho người nghèo không lấy tiền. Năm nào đến rằm tháng Giêng, ông cũng ra gốc cau đặt một bát nước, một quả trứng, nắm xôi, cắm hương vào cái bát hương sành nhỏ. Bà tưởng ông cúng cô hồn. Ông mất rồi, bà làm thay. Cái bát hương sành tôi thấy hôm nọ là của ông.

"Con quay ấy ông mày giữ năm năm mới dám đưa cho bố mày. Ông bảo đưa cho con mình thứ mà thằng bé xin không được, ông thấy mình như ăn cắp."

Trước khi mất, ông gọi bà lại dặn. Gỗ gụ không mục, cái sập ấy còn. Đồ thợ đóng, có ngày nó tìm về tay thợ. Bao giờ nó về làng thì mở hòm, đưa cho đứa nào cầm cái đục của ông. Bà giữ lời sáu năm. Hôm thấy cái sập trong xưởng, bà biết ngày ấy đến rồi, mà bà sợ quá, chưa dám.

Lễ làm vào ngày mười tháng Mười một, theo đúng mấy dòng chữ nho ông ghi sau tờ bùa nháp. Anh Quân đưa bố anh về. Ông Thạc ngồi xe lăn, gầy như que củi, da vàng sẫm, mắt trũng sâu. Nhưng ông vẫn tự chắp tay vái được bàn thờ ông tôi, vái ba vái.

Bà nội tôi ra tận cửa xưởng đón. Hai người già nhìn nhau rất lâu. Ông Thạc nói trước, giọng lào phào:

"Bác thợ nhà bà hát chèo hay lắm. Tôi còn nhớ một câu. Chiều nào bác ấy cũng hát."

Bà nội tôi cầm tay ông, không nói được gì.

Bộ sập được ráp lại đủ, đóng nêm chắc chắn như lúc mới đóng. Theo lời ông dặn, tôi đặt lại tờ bùa, mạt sắt và cục sáp vào cái mộng chân cuối bên phải, rồi ráp chân vào. Hai nhà bày mâm lễ trên mặt sập. Một mâm cho tổ nghề và ông tôi. Một mâm cho cậu Khoa, có xôi, trứng, một bát nước trong, và con quay gụ của bố tôi.

Tôi chui xuống gầm, tay cầm cái đục sáu ly của ông. Bố tôi quỳ ở đầu sập, khấn. Khấn tên ông. Khấn tên cậu Khoa, Hà Văn Khoa, sinh năm Bính Tuất, mất đêm rằm tháng Giêng năm Ất Mùi. Khấn rằng người yểm đã chết, con cháu người ấy xin gỡ, xin cậu thôi lạnh, thôi chờ.

Lưỡi đục trượt vào khe mộng vừa khít như lần đầu. Tôi khêu. Cuộn giấy rơi ra, lần này khô cong, nhẹ tênh. Từ ngoài mương, ếch nhái vẫn kêu đều, không ngớt một tiếng nào.

Tờ bùa đốt trong cái nồi đất trước sân, cùng cục sáp ong. Lửa cháy xanh lè một lúc rồi đỏ lại. Tro bùa bà nội tôi gói vào lá chuối. Cái lỗ mộng rỗng, bố tôi cắt một mẩu gụ từ chỗ ván mọt bỏ đi của chính bộ sập, gọt vừa khít, nêm chặt vào bằng vồ gỗ. Gõ ba nhát. Tiếng gỗ đặc, chắc, không còn tiếng rỗng.

Chiều hôm ấy hai nhà ra bến cũ, chỗ sông Đáy gặp sông Vân. Bến đò không còn, bây giờ là một bãi bồi trồng ngô, có cái lối đất dẫn xuống mép nước. Anh Quân đẩy xe lăn của bố anh đến tận chỗ đất ướt. Tôi đỡ ông Thạc đứng dậy. Ông thả nhúm mạt sắt và gói tro xuống nước. Rồi ông thả theo con quay gụ.

Con quay không chìm ngay. Nó nổi một lúc, xoay chầm chậm trên mặt nước đục như có ai búng, trôi ra giữa dòng. Ông Thạc đứng nhìn theo, môi mấp máy. Tôi nghe được mấy tiếng.

"Về chỗ mà ngủ đi em. Anh xin lỗi."

Bộ sập sửa xong vào giữa tháng Chạp. Tôi đánh lại xi, thay hai thanh yếm mọt, giữ nguyên dáng cũ. Anh Quân chở về Hà Nội. Anh gọi cho tôi sau Tết, bảo bố anh nằm sập ngủ ngon, đêm nào cũng ngủ một mạch đến sáng, chân ấm. Ông Thạc bảo có mơ thấy em, em khô ráo, ngồi đánh quay ngoài sân nhà cũ, gốc ngọc lan.

Ông Thạc mất vào tháng Ba năm sau, trên cái sập ấy, lúc ngủ trưa. Anh Quân mời nhà tôi lên viếng. Bố tôi đi, mang theo một nén hương của bà. Anh Quân bảo sẽ giữ bộ sập, không bán, không kê thóc.

Vết bầm ở cổ chân tôi nhạt dần, đến Tết thì hết. Thằng Lộc ra Giêng lại xin đi làm. Cụ Lãng mất năm sau nữa, chín mươi mốt tuổi, trước khi mất còn bảo con cháu khiêng sang xưởng nhà tôi cái giường xoan cụ đóng cho mình, dặn tôi đánh lại xi. Bà nội tôi vẫn đặt bát nước ở gốc cau mỗi rằm tháng Giêng. Sáng ra bát nước vẫn đầy, trong vắt.

Bố tôi giao cho tôi bộ đục của ông. Mười hai cái, cán sừng trâu, bọc vải nâu. Tôi dùng cái đục sáu ly nhiều nhất, để đục mộng cho những món đồ khó.

Mỗi lần đục xong một cái mộng, trước khi ráp, tôi soi đèn pin vào xem bên trong. Bao giờ cũng trống trơn, chỉ có thớ gỗ mới đục và mùn cưa. Tôi biết thế. Tôi vẫn soi.

Thỉnh thoảng, những hôm nước sông Đáy lên, tôi cầm cái đục lên buổi sớm thấy cán sừng hơi ẩm, có mùi phù sa thoang thoảng. Tôi lau khô, mài lưỡi, rồi làm việc tiếp.