Chương 10: Hòm đồ nghề
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Cái hòm lim dài chừng một mét, nắp phẳng, bốn góc bịt đồng. Bố tôi và anh Quân kéo nó ra khỏi gầm giường. Bụi bốc lên mù mịt. Cái khoá đồng gỉ xanh, tôi phải nhỏ dầu hoả vào, xoay chìa mấy lần mới bật.
Bên trên là một lớp vải điều đỏ đã bạc. Dưới lớp vải là mấy thứ đồ nghề tôi chưa từng thấy ông dùng. Một cây thước gỗ dài, khắc chi chít vạch và chữ nho. Bố tôi bảo thước Lỗ Ban.
Một cái bút lông nhỏ, ngòi đã cứng. Một thỏi mực tàu mòn một nửa. Một bánh sáp ong vàng sẫm, to bằng nắm tay, bị cắt dở một góc. Màu sáp, mùi sáp y hệt cục sáp tôi khêu ra từ mộng sập.
Dưới cùng là một cuốn sổ đóng gáy chỉ, bìa giấy dó cứng, và một phong bì giấy bản gấp đôi.
Cuốn sổ là sổ ghi công. Ông ghi từ năm 1947, mỗi việc một dòng, chữ quốc ngữ xen chữ nho. Năm nào, nhà ai, đóng cái gì, bao nhiêu công, trả đủ hay chưa. Tôi lật đến năm 1954. Dòng thứ ba của năm ấy viết:
"Giáp Ngọ. Tháng Hai đến tháng Sáu. Nhà ông Phán Tường, thị xã Ninh Bình. Sập gụ, tủ chè, án gian. Công một trăm hai mươi. Trả bốn mươi. Còn nợ tám mươi."
Ngay dưới, cùng nét chữ nhưng mực khác, viết thêm một dòng sau:
"Nợ ấy tôi xoá. Tôi nợ nhà ấy một mạng."
Anh Quân đọc qua vai tôi. Tôi nghe anh nín thở.
Trong phong bì có hai tờ giấy. Tờ thứ nhất là bản nháp bùa thuỷ. Hình người bé nằm ngang, ba lớp sóng nước đè lên đầu gối, ô vuông đen trên ngực, chữ chạy dọc quanh. Y hệt tờ bùa trong hộp sắt, chỉ có điều nét vẽ run hơn, như vẽ trong lúc tay đang run. Mặt sau ông ghi mấy dòng chữ nho, bố tôi đọc. Cách gỡ. Lễ gì, khấn gì, làm ở đâu.
Tờ thứ hai là một bức thư. Chữ quốc ngữ, viết bằng bút sắt chấm mực tím, nét nghiêng, đều, nhiều chỗ nhoè như bị nước rớt vào. Đầu thư ghi: "Kính gửi ông bà Phán Tường." Cuối thư ghi: "Tháng Hai năm Ất Mùi. Lương Văn Cẩn, thợ cả Hạ Trạch, kính bái." Dưới chữ ký là một dấu điểm chỉ mực tím, rõ từng đường vân.
Tôi lấy hộp sắt đựng tờ bùa từ xưởng ra, đặt dấu vân tay nâu đỏ ở góc tờ bùa cạnh dấu điểm chỉ mực tím. Hai cái giống hệt nhau. Cùng một vòng xoáy lệch về bên trái, cùng một vết sẹo nhỏ cắt ngang giữa.
Tôi đọc thư to lên. Anh Quân ngồi bệt xuống nền gạch nghe. Bà nội tôi ngồi trên giường, nhắm mắt.
Ông viết rằng ông xin nhận tội. Rằng hôm ráp sập, ông nghe ông Phán nói không trả công, ông giận, ông yểm bùa thuỷ vào mộng chân cuối bên phải. Ông chỉ định cho người nằm lạnh chân, mất ngủ, cho ông Phán biết thế nào là cái lạnh của người làm thuê. Ông không biết cậu Khoa nằm phía chân. Đến hôm bị đánh, nằm dưới gốc ngọc lan, nhìn lên thấy cậu đứng khóc trên thềm, ông mới chợt nghĩ ra. Ông gào bảo cậu đừng nằm sập, mà không ai hiểu.
Rồi ông viết về đêm rằm tháng Giêng.
Ông nằm ba tháng bó chân, đêm nào cũng thấy thằng bé. Ra Tết, chân vừa đi được, ông mang cái đục sáu ly, đêm ấy thuê đò sang sông. Ông thuộc nhà ông Phán như thuộc lòng bàn tay, cửa sổ chái phía sông không có chấn song. Ông trèo vào, mò đến sập. Cậu Khoa đang thức, co ro ở cuối sập, người lạnh ngắt. Cậu nhận ra ông, mừng quá, thì thào gọi bác thợ.
"Tôi bảo cậu sang nằm phản với anh. Tôi chui xuống gầm, đưa đục vào mộng. Chưa khêu được thì chó sủa, ông Phán thức dậy quát có trộm. Tôi bỏ chạy ra cửa sổ chái, chạy ra bến. Người nhà đốt đuốc đuổi theo. Tôi đẩy đò ra giữa dòng."
Đoạn sau nét chữ nhoè nhiều nhất. Tôi phải ngừng mấy lần mới đọc ra.
"Ra giữa sông tôi nghe trên bến có tiếng trẻ con gọi bác thợ ơi, chờ cháu với. Tôi tưởng mình nghe nhầm. Tôi sợ quay lại thì bị bắt, bị đánh chết. Tôi chèo tiếp."
"Sáng ra người ta vớt cậu ở chính cái bến ấy. Cậu đã trèo cửa sổ chái theo tôi. Cửa chính vẫn cài then. Cậu Khoa chết là vì bùa tôi yểm, cũng là vì tôi không quay lại."
Ông viết ông xin được sang lạy trước linh cữu cậu, xin được gỡ bùa. Ông biết ông Phán sẽ không cho. Thư không có tem, không có địa chỉ, chưa bao giờ được gửi đi.
Tôi đọc xong. Không ai nói gì. Ngoài sân, mưa phùn rơi lắc rắc trên tàu lá cau.
Anh Quân đứng dậy, đi ra cửa buồng, đứng quay lưng. Vai anh rung lên. Bố tôi cầm cuốn sổ ghi công, ngón cái cứ miết mãi vào dòng chữ còn nợ tám mươi.
Bà nội tôi mở mắt. Bà nhìn bức thư trên tay tôi, rồi nhìn ra lưng anh Quân.
"Ông mày không định giết ai."
Bà nói chậm, rõ từng tiếng, như bà đã tập nói câu ấy trong đầu năm mươi sáu năm.
"Đêm ấy ông mày về, người ướt đến ngực. Bà mở cửa cho ông. Câu đầu tiên ông nói với bà, bà nhớ đến chết, là thằng bé nó gọi tôi mà tôi không quay lại."