Chương 2: Bức tường quét vôi
Khoảng 4 phút đọc·10lượt xem
Từ hôm ấy, ngày nào cũng thừa một cái.
Không theo khoa nào nhất định. Hôm thì lẫn trong áo khoa Nội, hôm trong áo khoa Sản, có hôm nằm giữa đống vỏ gối khoa Nhi. Không theo giờ nào nhất định. Có mẻ sáu giờ, có mẻ ba giờ chiều. Nhưng mỗi ngày chỉ một mẻ, chỉ một cái. Tôi bắt đầu đoán được trước khi đếm. Hễ mở cửa máy sấy mà hơi nóng phả ra có mùi bùn là tôi biết hôm nay nó ở mẻ này.
Và lần nào nó cũng được gấp sẵn.
Không phải kiểu gấp làm tư của tổ tôi. Nó gấp theo một kiểu tôi chưa thấy ai gấp. Hai tay áo bẻ ra sau lưng, bắt chéo vào nhau, như người đang tự ôm lấy mình cho đỡ lạnh. Cổ áo vuốt phẳng. Cái cúc trên cùng cài cẩn thận.
* * *
Tôi đi hỏi khắp nơi, giả như hỏi để làm việc cho đúng. Tôi hỏi hộ lý khoa Nội, hỏi chị trực tổng đài, hỏi cả anh bảo vệ gác cổng sau. Viện có khu nhà ba tầng, phòng đánh số từ một trăm lẻ một. Khu nhà cũ có phòng hành chính đánh số bằng chữ. Không có phòng nào số không.
Chị Dung trong tổ tôi bảo, hồi xưa có dùng ký hiệu P cho phòng ở tầng hầm, nhưng tầng hầm giờ chỉ có tổ giặt là với kho vải. Hỏi thêm thì chị lảng sang chuyện con chị thi lên cấp ba.
Tôi để ý thấy một điều. Cả tổ không ai chạm vào cái áo ấy, trừ bà Tư. Có hôm tôi mở máy sấy lúc bà đi họp, chị Liên đứng cạnh tôi. Chị thấy nó, lùi lại một bước, đưa tay lên làm dấu như người theo đạo, rồi đi ra bể ngâm, để tôi tự gấp chồng áo ấy.
Bà Tư về, cầm cái áo cho vào bao tải dứa dưới gầm bàn ủi. Chiều thứ bảy, bà vác bao tải ấy ra sau lò đốt rác của viện. Tôi đứng ở cửa hầm nhìn theo. Khói từ lò lên rất đen, và có một lúc gió tạt về phía tôi, tôi ngửi thấy mùi vải cháy lẫn mùi nước sông.
* * *
Cuối hành lang tầng hầm, quá kho vải chừng chục bước, có một bức tường.
Lúc đầu tôi không để ý nó. Một bức tường cuối hành lang thì có gì mà để ý. Nhưng hành lang ấy lát gạch đỏ đến tận chân tường rồi dừng đột ngột, mạch gạch bị cắt ngang, không có viền như các góc khác. Tường quét vôi trắng, trắng hơn hẳn tường hai bên. Năm nào gần Tết bà Tư cũng bắt tổ quét lại riêng chỗ ấy một nước vôi.
Và ở giữa bức tường, có một vệt ẩm.
Vệt ẩm cao hơn đầu người một chút, rộng chừng một sải tay, hai bên thẳng, phía trên hơi cong. Vôi chỗ ấy lúc nào cũng xám hơn, sờ vào thấy nhớp. Ở chân tường, ngay dưới vệt ẩm, có một vũng nước nhỏ không bao giờ khô hẳn. Tôi thử lau bằng giẻ. Một tiếng sau quay lại, nước lại đọng.
Tôi đứng trước bức tường ấy, ngửi. Vẫn là mùi ấy. Bùn non, rong mục, nước đứng lâu dưới chân kè.
Bên kia bức tường, tôi tính nhẩm theo hướng, chỉ có thể là đất. Rồi qua khỏi đất là bờ kè sông Đào.
* * *
Tôi quyết định thử một việc. Bây giờ nghĩ lại tôi thấy mình liều, nhưng hồi ấy tôi hai mươi sáu tuổi, chưa sợ gì thật.
Chiều thứ tư, lúc bà Tư lên phòng tài vụ, tôi lấy cái áo P.0 của ngày hôm ấy ra khỏi bao tải. Tôi gói nó trong một tờ báo cũ, cho vào tủ sắt để đồ cá nhân của tôi, khoá bằng cái khoá Việt Tiệp nhỏ, chìa tôi xâu vào sợi dây đeo cổ. Tôi muốn xem sáng mai có còn thừa nữa không. Tôi nghĩ, nếu người ta cố tình nhét vào để trêu đứa mới, thì giữ lại một cái sẽ biết.
Tối hôm ấy về nhà, dì Hằng nấu canh cua. Ăn được nửa bát, dì đặt đũa xuống, nhìn tôi.
"Mày đi đâu mà người tanh như vừa lội sông thế?"
Tôi bảo tại dưới hầm ẩm. Dì nhìn tôi thêm một lúc nữa, rồi đứng dậy đi thắp nén hương trên bàn thờ mẹ tôi, dù hôm ấy không phải rằm.
* * *
Sáng hôm sau, tôi xuống sớm hơn mọi người nửa tiếng.
Cái khoá Việt Tiệp vẫn khoá. Chìa vẫn trên cổ tôi. Tôi mở tủ. Tờ báo cũ nằm đó, gấp đúng như tôi đã gấp. Tôi mở tờ báo ra.
Bên trong trống không. Chỉ có giấy báo ướt sũng, mềm nhũn, chữ in nhoè ra thành một màu xám.
Tôi quay sang máy sấy. Ca đêm không có ai giặt. Máy sấy tắt từ chiều qua. Nhưng khi tôi kéo cửa máy ra, cái áo nằm đó, một mình, ở giữa lồng thép lạnh ngắt. Gấp sẵn. Hai tay áo bắt chéo sau lưng.
Tôi quay lại cái tủ sắt. Lúc này tôi mới để ý, dưới đáy tủ có một vũng nước nhỏ, trong vắt, và cái áo blu đồng phục treo trong tủ của tôi ướt đẫm từ vai xuống. Như có ai mặc nó, đứng trong cái tủ chật ấy, suốt đêm.