☾ Truyện Ma Có Thật
← Bàn cơ trên tầng bốn

Chương 4: Bác gác cổng

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Nguyệt không nhớ đã nói câu ấy. Khi tôi kể lại, nó lắc đầu nguầy nguậy, rồi bịt tai. Hằng ngồi im một lúc lâu, cuối cùng nói, thì "chị" bảo chị chờ, chắc chị cần gì thật, phải tìm cho chị. Tìm được thì chị đi, chị không gọi Nguyệt nữa.

Tôi cũng nghĩ thế. Tôi muốn nghĩ thế. Một người con gái chết oan trong phòng mình, mười bảy năm không ai thắp cho một nén hương, gọi mãi không ai nghe. Bà tôi ở Trùng Khánh vẫn bảo người chết trẻ mà ấm ức thì hay quanh quẩn chỗ cũ.

Nên sáng thứ Tư, bỏ một tiết Ngữ âm, tôi ra cổng trường tìm bác Quảng.

Bác Quảng gác cổng trường từ hồi trường còn là mấy dãy nhà cấp bốn. Cả trường gọi bác là "bác Quảng điếu cày", vì cái điếu cày ống trúc lúc nào cũng dựng cạnh chân ghế. Bác người Đồng Hỷ, nói giọng Thái Nguyên, chữ "nờ" lẫn chữ "lờ". Bọn tôi về muộn hay mua thuốc lào cho bác để bác mở cổng.

Tôi mua hai lạng thuốc lào Tiên Lãng ở quán đầu dốc, mang vào bốt gác. Bác đang đun nước trên cái bếp than tổ ong.

"Cháu hỏi bác chuyện ngày xưa ạ. Bác có biết năm tám chín có chị sinh viên nào chết ở phòng 412 khu B không ạ?"

Bác Quảng đang rót nước vào ấm, dừng tay.

"Đứa nào bảo cháu thế?"

Tôi bảo các chị khóa trên kể. Bác cười khùng khục, lắc đầu.

"Bác gác cổng này từ năm tám lăm. Trường này có đứa nào chết trong ký túc là cả trường biết, khóc như ri ấy chứ. Phòng bốn trăm mười hai, chả có đứa nào chết cả. Mấy đứa khóa trên bịa chuyện dọa chúng mày đấy."

"Thế năm tám chín có chuyện gì không bác? Chuyện một chị bị đổ là ăn cắp."

Bác Quảng đặt ấm xuống. Bác rít một hơi điếu cày, thả khói ra cửa bốt, nhìn theo khói.

"Có. Có đứa con gái bị đuổi học. Người dân tộc, trên Bắc Thái cũ, chỗ Chợ Đồn hay Bạch Thông bác chả nhớ. Bảo là lấy tiền quỹ nhà ăn. Bố nó xuống đón. Ông ấy đi bộ từ bến xe lên, vác cái bao tải chăn màn. Hai bố con đi qua cổng này, con bé khóc không thành tiếng."

"Chị ấy có lấy thật không bác?"

"Bác gác cổng thì bác biết gì."

Bác nói câu ấy hơi nhanh. Tôi ngồi im. Bác rót nước ra chén, đẩy cho tôi một chén, uống một chén, rồi nói tiếp như nói với cái chén.

"Người chết trên tầng bốn khu B thì có. Mà không phải sinh viên."

Tôi chờ. Bác Quảng không nói thêm. Bác cầm cái que cời than, cời mãi một chỗ.

"Ai hả bác?"

"Chuyện người ta. Chết rồi thì thôi. Cháu hỏi làm gì những chuyện ấy."

Tôi buột miệng, bảo phòng cháu dạo này cứ chiều tối là có mùi thuốc lá Điện Biên, mà phòng toàn con gái.

Bác Quảng ngẩng lên nhìn tôi. Cái nhìn ấy tôi nhớ mãi. Không phải sợ, mà là một thứ gì đó giống như ghê tởm, như người vừa ngửi thấy mùi chuột chết trong bếp nhà mình.

"Đứa nào trong phòng cháu ngủ ở cửa?"

Tôi bảo bạn cháu, Nguyệt. Bác Quảng đứng dậy, đi ra ngoài bốt, nhổ toẹt một bãi xuống rãnh nước. Lúc quay vào, bác chỉ nói:

"Cho nó đổi giường. Đừng để nó ngủ ở cửa. Thôi, về học đi."

Rồi bác quay lưng lại, giả vờ xem sổ ghi xe. Tôi chào. Bác không đáp.

Tôi đạp xe về khu B mà đầu nặng như đeo đá. Không có ai chết ở phòng 412. Vậy "chị Thoa" là ai? Một chị bị đuổi học, bố xuống đón về. Hay có hai người, một người bị đuổi, một người chết? Tôi lật quyển vở chép lời cơ ra đọc lại, đọc đến chữ "chết ở đây". Chữ "đây" ấy, đồng xu đánh xong rồi đứng rất lâu ở chữ Y, tôi còn nhớ.

Lên đến tầng bốn, tôi thấy cửa phòng 412 đóng kín, khe dưới cửa có ánh nến.

Tôi đẩy cửa vào. Hằng và Nguyệt ngồi bệt dưới nền nhà, giữa hai đứa là tờ lịch. Không có Dịu. Đồng xu nằm trong vòng tròn. Ở góc giấy, chỗ chữ KHÔNG, có một vết cháy nâu tròn, nhỏ bằng móng tay, viền giấy quăn lại. Phòng đặc mùi thuốc lá đến nỗi tôi phải đứng ở cửa mà ho.

"Chúng mày làm gì đấy? Tao đã bảo đợi tao về cơ mà."

Hằng nhìn tôi. Mặt nó tái. Nó không đáp, chỉ đưa cho tôi quyển vở của nó. Trên đó, chữ nó viết nguệch ngoạc, từng chữ cái cách nhau, ghép lại một câu.

L, A, N, H, D, U, N, G, H, O, I, N, U, A.

Lành đừng hỏi nữa.

Hằng bảo hai đứa ngồi xuống từ lúc tiết hai vừa vào. Đúng lúc tôi ngồi trong bốt hỏi bác về chị bị đuổi học, ở đây "chị" đang đánh chữ tên tôi.

Bên dưới câu ấy, Hằng còn chép một dòng nữa. Nó viết mạnh tay quá, ngòi bút xé rách cả giấy.

N, G, U, Y, E, T, L, E, N, M, O, T, M, I, N, H.