Chương 7: Lớp Văn khóa cũ
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Ở khoa Văn có một cô giáo sắp về hưu, cô Phụng, dạy Văn học cổ. Cả khoa sợ cô vì cô chấm khắt, gọi lên bảng đọc thuộc từng đoạn Chinh phụ ngâm. Nhưng cô là người duy nhất tôi biết đã ở trường này từ những năm tám mươi.
Tôi đợi cô sau giờ dạy, ở hành lang khu giảng đường. Trời rét, cô quàng cái khăn len màu nâu đất, tay cầm cặp da sờn. Tôi chào, rồi không biết mở lời thế nào, đành chìa quyển sổ ra.
Cô Phụng cầm sổ, lật mấy trang. Mặt cô không đổi. Rồi cô lật đến trang có tên Thoa, và tay cô dừng lại.
"Em lấy cái này ở đâu?"
Tôi kể. Kể hết, kể cả chuyện cầu cơ, chuyện tôi biết thể nào cũng bị mắng. Cô Phụng không mắng. Cô nghe hết, rồi bảo tôi theo cô về phòng bộ môn. Phòng không có ai. Cô rót cho tôi một cốc nước nóng từ phích, ngồi xuống đối diện, đặt quyển sổ lên bàn, úp xuống.
"Chữ này là chữ ông Thiều. Quản lý khu B hồi ấy."
Cô im một lúc lâu, nhìn ra cửa sổ, nơi mấy cây cọ trên đồi lắc lư trong gió bấc.
"Năm tám chín cô mới hai mươi sáu tuổi. Trợ giảng, kiêm phụ trách nữ sinh khu B. Cô ở ngay tầng ba." Cô nói chậm, lựa từng chữ.
"Ông Thiều giữ thẻ sinh viên với phiếu cơm của các em. Lấy cớ kiểm tra nội vụ, rồi giữ lại. Tối muốn lấy lại thì phải tự lên phòng trực mà lấy. Một mình."
Tôi ngồi im. Cô Phụng không nhìn tôi.
"Có em lên rồi về, không nói gì. Có em về khóc cả đêm, sáng ra vẫn đi học như thường. Thời ấy, em ạ, con gái ở quê lên, được đi học là cả nhà trông vào. Ai dám nói. Mà nói với ai."
"Chị Thoa có nói không cô?"
"Thoa nói."
Cô Phụng lật quyển sổ lên, lấy ngón tay vuốt cái tên.
"Nó là đứa ít nói nhất lớp. Người Tày, như em. Viết chữ đẹp, hay ngồi một mình chép thơ.
Một tối nó xuống phòng cô, mặt trắng bệch, tay nắm chặt cái thẻ sinh viên. Nó kể. Không kể nhiều. Chỉ bảo ông ấy đã làm gì, bảo nó đã đẩy ông ấy ra, chạy xuống cầu thang. Nó bảo nó muốn báo nhà trường."
"Rồi sao hả cô?"
"Cô dẫn nó lên gặp thầy phó hiệu trưởng. Thầy nghe, thầy bảo để thầy xem xét. Một tuần sau, nhà ăn báo mất tiền quỹ. Ông Thiều dẫn người đi kiểm tra từng phòng. Tìm thấy tiền trong rương của Thoa, gói trong cái khăn mùi xoa của nó." Cô Phụng nhắm mắt lại.
"Lập biên bản. Kỷ luật. Đuổi học. Cả việc đi tố cáo cũng bị bảo là vu khống để chạy tội."
"Cô có tin chị ấy lấy không ạ?"
"Không." Cô mở mắt. "Nhưng cô không đứng ra. Cô sợ mất việc. Cô ở cái trường này ba mươi năm, có một chuyện ấy là cô không ngủ được."
Tôi hỏi câu tôi đã định hỏi từ đầu.
"Thế chị Thoa chết ở phòng 412 phải không cô? Mùa rét năm ấy?"
Cô Phụng nhìn tôi như thể tôi vừa nói một câu bằng tiếng nước ngoài.
"Chết? Ai bảo em thế? Thoa không chết ở đây. Bố nó xuống đón nó về. Cô ra tận cổng tiễn. Năm sau nó còn gửi cho cô một lá thư."
Cô đứng dậy, mở cái tủ sắt sau lưng, lục một lúc trong chồng giấy tờ cũ buộc dây chun, rút ra một cái phong bì. Phong bì giấy nâu, tem in hình hoa phong lan, dấu bưu điện Chợ Đồn năm 1990. Cô không đưa thư cho tôi đọc. Cô chỉ chép cái địa chỉ người gửi ra một mẩu giấy: Hoàng Thị Thoa, thôn Nà Hin, xã Bằng Lãng, huyện Chợ Đồn.
"Từ hồi ấy cô không viết lại. Cô không biết viết gì." Cô đưa mẩu giấy cho tôi. "Em muốn biết thì lên đấy mà hỏi. Còn ai đang nói chuyện với các em trong phòng ấy, thì cô không biết."
Tôi hỏi ông Thiều bây giờ ở đâu. Cô Phụng gấp quyển sổ lại.
"Ông ấy không còn ở trường từ lâu rồi."
Cô nói câu ấy giống hệt cái giọng bác Quảng nói "chết rồi thì thôi". Rồi cô bảo tôi về, cầm theo quyển sổ, cất cho kỹ.
Tôi đạp xe về khu B trong gió bấc, nghĩ mãi. Chị Thoa không chết ở phòng 412. Vậy là "chị" nói dối, hoặc tôi hiểu sai. Có thể chị chết sau này, ở quê, rồi hồn chị về lại chỗ chị bị nhục nhất. Bà tôi bảo người chết trẻ hay về chỗ mình ấm ức. Tôi cố tin như thế, vì nếu không phải thế thì tôi không biết phải nghĩ gì.
Lên đến phòng, tôi thấy Nguyệt nằm trùm chăn, sốt hầm hập. Hằng ngồi cạnh, đắp khăn ướt lên trán nó. Dịu đứng giữa phòng, nhìn xuống nền nhà.
Tờ lịch nằm mở phẳng trên nền nhà. Không ai trải nó ra. Hằng thề là nó vẫn gấp làm tư dưới đáy rương, rương vẫn khóa. Đồng xu năm hào nằm ngay giữa vòng tròn.
Cái lọ thủy tinh vẫn đứng trên nóc tủ. Nắp vẫn vặn chặt. Muối vẫn đầy. Trong muối không có gì cả.