☾ Truyện Ma Có Thật
← Bản cũ dưới lòng hồ

Chương 10: Cơn mưa đầu mùa

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Chúng tôi không đưa được đứa bé lên hôm ấy. Ông mo không cho. Ông bảo người nằm dưới đó sáu năm rồi, không vội một ngày. Phải báo xã, phải có người nhà ký giấy, phải sắm lễ cho đủ. Đưa người chết nước lên mà không lễ thì đưa lên cái xác, còn cái vía ở lại dưới nước.

Ông Khiêm báo lên xã ngay chiều hôm ấy. Xã bảo phải chờ công an huyện xuống lập biên bản. Hẹn ba ngày.

Đêm thứ hai thì mưa.

Mưa đầu mùa trên này không giống mưa dưới xuôi. Nó không lắc rắc rồi nặng dần. Nó đổ ập xuống như ai dốc ngược cái chum, đập lên mái tôn nhà công vụ ầm ầm, đến nỗi tôi phải gào lên mới nghe được tiếng mình. Sấm rền từ bên kia núi, chớp loé trắng cả mặt hồ. Đất đỏ trên dốc chảy thành từng dòng như máu loãng.

Sáng ra, ngọn gạo đã thấp đi một đoạn. Bộ khung nhà sàn chỉ còn thấy nóc. Nước lên nhanh đến mức ông Khiêm đứng ở bậc thang nhìn xuống, lắc đầu. Hai ngày nữa mưa thế này thì công an xuống cũng không lặn được.

Ông mo quyết định làm lễ ngay tối hôm ấy. Ông Sướng đồng ý. Ông Khiêm gọi thêm bốn người đàn ông có thuyền. Chị Én và mấy người đàn bà sắm lễ: gà, xôi, cá nướng, rượu, một tấm chăn mới, một bộ áo cóm trẻ con màu xanh, một đôi dép nhựa nhỏ. Đồ cho Ín.

Tôi xin đi. Không ai cản.

Ba chiếc thuyền ra gò lúc trời vừa tối, mưa đã ngớt thành mưa bụi. Đuốc tre không đốt được, phải dùng đèn pin và đèn ắc quy. Mặt hồ đục ngầu, rác rưởi trôi lềnh bềnh, có cả một con lợn chết trương phềnh. Nước đã ngập đến mép sàn nhà. Ông mo bày lễ trên nóc một chiếc thuyền, khấn trong gió.

Anh Hươn và một anh nữa buộc dây vào bụng lặn xuống. Tôi được giao giữ cuộn dây của anh Hươn, đứng trên mép sàn ngập đến mắt cá. Dây thừng ướt, trơn, cuộn quanh cánh tay tôi ba vòng.

Dây chìm xuống. Rồi đứng im.

Tôi cảm thấy cái lạnh trước tiên. Nó dâng từ mặt nước lên, qua mắt cá chân, qua bắp chân, lạnh đến buốt xương như tôi vừa giẫm vào một hố nước đá. Côn trùng quanh hồ im bặt. Ngay cả tiếng mưa bụi rơi trên mặt nước cũng như ngừng lại.

Một bàn tay nắm cổ chân tôi.

Lần này nó kéo.

Tôi ngã. Mặt nước đập vào mặt tôi, lạnh và tanh. Tôi chìm. Cuộn dây thừng trên cánh tay tôi tuột ra từng vòng. Tôi nghe tiếng ai thét trên thuyền, rồi không nghe gì nữa.

Dưới nước không tối như tôi tưởng. Có một thứ ánh sáng xanh xám, mờ, từ đâu không rõ. Tôi thấy gầm sàn nhà. Những cây cột gỗ mọc rêu như râu. Một cái cối giã gạo bằng gỗ nằm nghiêng. Và cạnh cái cối, treo trên một xà ngang bằng sợi mây đã mục, là cái chiêng. Mặt chiêng to bằng cái nong nhỏ, núm giữa xanh đồng.

Một đứa con gái ôm lấy cái chiêng.

Nó mặc áo cóm màu chàm, tóc xoã dài trôi lững lờ trong nước như rong. Hai tay vòng qua vành chiêng. Một cổ tay có vòng bạc. Cổ tay kia trống. Nó ngẩng lên nhìn tôi. Mặt nó trắng bợt, mắt đen và mở to, không phải mắt người chết. Mắt một đứa trẻ đã chờ quá lâu.

Xa hơn, phía gốc gạo, giữa đám rễ chằng chịt như chuồng chim, có một bóng người lớn hơn. Đàn bà. Tóc búi. Đứng im, một tay giơ lên như đang vẫy, như đang gọi đứa con lên.

Tôi không thở được. Phổi tôi bỏng rát. Bàn tay nhỏ vẫn giữ cổ chân tôi. Và tôi nghe giọng nó, không qua tai, như nó nói ngay trong đầu tôi.

"Ông cán bộ đâu? Bảo ông ấy xuống."

Tôi không biết vì sao, nhưng tôi trả lời. Tôi nói trong đầu, bằng tất cả những gì còn lại trong phổi: chị sẽ tìm tên nhà em. Chị sẽ tìm người viết. Chị hứa.

Đứa con gái buông chân tôi ra. Nó buông cả cái chiêng ra. Nó lùi dần về phía gốc gạo, về phía bóng đàn bà ấy, rồi mờ đi trong làn nước.

Có ai túm tóc tôi kéo lên. Anh Hươn. Tôi nôn ra nước, ho đến rách cổ họng, nằm vật trên sàn thuyền. Ông mo đặt tay lên trán tôi, khấn. Chị Én ôm lấy tôi, khóc.

Một giờ sau, những người đàn ông đưa lên một tấm chăn. Trong chăn là những mẩu xương nhỏ, nhẹ bỗng, một mảnh vải áo màu chàm đã rã, và một chiếc vòng bạc xoắn, xỉn đen. Chỉ một chiếc.

Họ đưa lên cả cái chiêng. Trên bờ, ông mo cầm dùi gõ thử một tiếng.

Tiếng chiêng không ngân. Nó rè đi, vỡ ra như tiếng một cái nồi nứt. Ông mo lật chiêng lên. Có một vết nứt dài chạy từ vành vào gần đến núm, như có ai đã nện vào nó đến kiệt sức.

Gần nửa đêm, khi tôi đang ngồi co ro bên bếp lửa nhà ông Khiêm, điện thoại rung. Số lạ. Là anh Tuyên ở xã.

"Chị Hà à. Em tìm được rồi. Danh sách Phiêng Lứa, năm 2008." Anh ngập ngừng.

"Chị lên xem đi. Có chỗ này... em không hiểu."