Chương 4: Bản cũ dưới nước
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Ông mo đến buộc vía cho con Lả vào sáng Chủ nhật. Ông tên Cầm Văn Hặc, bảy mươi lăm tuổi, người nhỏ thó, lưng còng, tai to, đội cái khăn xéo màu chàm đã bạc. Ông ngồi xếp bằng giữa sàn nhà chị Én, trước một mâm có con gà luộc, đĩa xôi nếp, chén rượu, nắm muối, một cuộn chỉ trắng. Ông khấn bằng tiếng Thái, giọng đều, lên xuống như người đọc thơ.
Tôi ngồi ở góc, được mời vì là cô giáo cứu con. Khấn xong, ông mo cắt chỉ trắng thành từng đoạn ngắn, buộc vào cổ tay con Lả, vừa buộc vừa lẩm nhẩm. Rồi ông buộc cho chị Én, cho em trai Lả, và cuối cùng, không hỏi, ông cầm cổ tay tôi buộc một vòng.
"Cô giáo cũng xuống nước. Cô giáo cũng phải buộc."
Ông nói tiếng phổ thông, chữ "phải" kéo dài. Tay ông khô và nóng như vỏ cây phơi nắng.
Uống rượu xong, tôi hỏi ông về cái chiêng. Ông Hặc nhìn tôi lâu, đôi mắt đục mờ như nước hồ. Ông nói cái chiêng ấy đánh lên thì cả thung lũng nghe. Ngày trước giữ ở nhà ông mo cũ cạnh gốc gạo, ông mo cũ mất thì con trai ông ấy giữ, con trai mất thì con dâu giữ.
"Rồi sao hả ông?"
"Rồi nước lên."
Ông nói thế, rồi rót thêm rượu, không nói nữa.
Thứ Hai tôi làm một việc mà sau này nghĩ lại tôi không biết nên gọi là tò mò hay là bị ai xui. Giờ mĩ thuật, tôi bảo học trò vẽ bản cũ. Đứa nào không nhớ thì về hỏi ông bà, vẽ theo lời ông bà kể. Bọn trẻ hớn hở, bò ra sàn lớp, chì màu vương vãi.
Hai mươi bức tranh, bức nào cũng có cây gạo. Cây gạo to, đỏ chói, hoa vẽ bằng chì đỏ như những đốm lửa. Dưới gốc gạo, bức nào cũng có một cái nhà sàn. Trên cầu thang nhà sàn, sáu bức có một đứa con gái, tóc dài, tay giơ lên. Tôi hỏi đứa con gái là ai. Bọn trẻ nhún vai. Thằng Pâng bảo ông nó dặn vẽ thế, nhà ấy lúc nào cũng có đứa con gái ngồi cầu thang.
Chiều, tôi mang vở và bút sang nhà ông Khiêm. Tôi nói muốn ghi lại tên các nhà ở bản cũ, để làm bài cho học trò về quê hương. Ông Khiêm thích. Ông ngồi nhớ từng nhà, từ đầu suối đến cuối bản, nhà này họ Lường, nhà kia họ Quàng, ba mươi tám nóc. Tôi ghi theo, có mấy đứa trẻ ngồi xem ké.
Đến gốc gạo, ông chậm lại.
"Nhà sát gốc gạo là nhà ông mo cũ, họ Tòng. Con trai là Tòng Văn Pánh, chết năm 2007, sốt rét. Vợ nó là Lò Thị Ỏn, người Than Uyên lấy về. Có một đứa con gái. Tòng Thị Ín."
"Bây giờ họ ở đâu ông?"
"Đi Than Uyên rồi. Về nhà mẹ đẻ con Ỏn. Đi từ trước khi nước lên."
Tôi cúi xuống ghi. Lò Thị Ón. Thằng Pâng ngồi cạnh tôi bật cười, chọc ngón tay vào trang vở.
"Sai rồi cô giáo. Ỏn cơ. Không phải Ón."
Nó đọc hai tiếng cho tôi nghe. Tôi nghe thấy giống hệt nhau. Bọn trẻ cười rộ lên. Con Lả che miệng nói nhỏ, người Kinh tai không nghe được, cô giáo năm ngoái gọi tên nó cũng sai suốt. Tôi gạch đi viết lại. Ông Khiêm không cười. Ông nhìn trang vở, nhìn chỗ tôi gạch, rất lâu.
"Bản cũ cũng có nhà Ón thật. Lò Văn Ón, ở đầu suối. Nhà ấy cũng đi Than Uyên. Hai nhà cùng đi một năm, người ta nói lẫn suốt."
Rồi ông bảo trời sắp tối, cô giáo về đi.
Tôi chưa về. Tôi đi bộ xuống bờ, nhờ anh Hươn chở ra lồng cá mua mấy con cá rô phi cho bữa tối. Thật ra tôi muốn hỏi anh về cái nhà dưới gốc gạo. Anh Hươn đang cho cá ăn, ném từng nắm cám viên xuống, mặt nước sôi lên những cái miệng đớp. Tôi hỏi anh có biết nhà bà Ỏn không.
"Biết. Con Ín học cùng lớp em gái anh."
"Họ đi Than Uyên lúc nào?"
Anh Hươn ngừng tay. Nắm cám trong tay anh rơi lả tả.
"Không biết. Bảo đi thì đi. Lúc ấy nhà nào lo nhà ấy, cô giáo. Dỡ nhà, khiêng cột, mưa suốt. Ai để ý ai."
Anh chèo thuyền đưa tôi về lúc trời đã chạng vạng. Thuyền không nổ máy, anh bảo đoạn ngắn chèo cho tiết kiệm dầu. Mặt hồ phẳng như tấm kính đen, in ngược sườn đồi và mấy ánh đèn vàng của bản. Ngọn gạo ở xa phía sau lưng chúng tôi chỉ còn là mấy vạch xám.
Tôi ngồi ở mũi, quay mặt về phía anh Hươn. Mái chèo khua nước đều đều. Rồi tiếng ếch nhái dọc bờ tắt. Tôi biết cái im lặng ấy rồi. Anh Hươn cũng biết, vì mái chèo của anh dừng lại giữa chừng, nhỏ nước tong tong.
Thuyền nghiêng về bên trái.
Tôi nhìn xuống. Trên mạn thuyền bên trái, cách đầu gối tôi một gang tay, có một bàn tay đang bám. Bàn tay trắng, trắng bợt như cái bánh đúc ngâm nước, ngón nhăn nheo, móng tím. Năm ngón quặp lấy mép ván. Cổ tay mảnh, thò lên khỏi mặt nước đến đó thì thôi, phía dưới là nước đen.
Ở cổ tay có một cái vòng bạc. Vòng xoắn, đã xỉn đen, lỏng lẻo.
Thuyền nghiêng thêm. Nước bắt đầu tràn qua mép ván, chảy vào lòng thuyền, lạnh ngắt dưới mông tôi. Anh Hươn nói một câu gì đó bằng tiếng Thái, rất khẽ, giọng vỡ ra. Bàn tay ấy không kéo mạnh. Nó chỉ bám, và kéo dần, dần, về phía ngọn gạo.