☾ Truyện Ma Có Thật
← Bản cũ dưới lòng hồ

Chương 5: Người giữ chiêng

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Tôi không nhớ mình đã làm gì trong mấy hơi thở ấy. Anh Hươn kể lại rằng tôi không kêu, chỉ ngồi cứng như tượng, hai tay ôm đầu gối. Tôi nhớ có một lúc bàn tay trắng kia trườn dọc mép ván, chậm, từng ngón một, về phía tay tôi đang tì lên mạn. Nó dừng lại cách cổ tay tôi một đốt ngón. Ở đó có vòng chỉ trắng ông mo buộc hồi sáng hôm qua.

Bàn tay rụt lại. Không chìm xuống. Rụt lại, như người chạm phải nồi nước sôi.

Thuyền bật thẳng. Nước trong lòng thuyền sóng sánh, tràn qua mũi dép tôi. Anh Hươn chèo như điên, mái chèo đập nước tung tóe, không nói câu nào cho đến khi mũi thuyền húc vào bờ đá. Anh nhảy lên, kéo thuyền, rồi đứng thở, hai tay chống gối. Rồi anh nói, không nhìn tôi.

"Từ mai cô giáo đừng ra hồ lúc tối. Anh không chở nữa."

Tối ấy tôi không ngủ. Tôi bật đèn suốt đêm, ngồi trên giường, kéo màn kín bốn phía. Vòng chỉ trắng trên cổ tay tôi có một chỗ sờn, như bị cái gì sắc cọ vào. Tôi nghĩ đến cái vòng bạc xoắn trên cổ tay trắng kia. Tôi nghĩ đến chữ "leng keng" con Lả nói.

Chuyện con Lả suýt chết đuối và chuyện thuyền anh Hươn bị kéo lan khắp bản trong hai ngày. Đến thứ Tư thì thầy hiệu trưởng ở điểm trường chính gọi điện. Thầy là người Kinh, quê Thái Bình, lên đây hai mươi năm. Thầy nói nhẹ nhàng nhưng không để tôi cãi.

"Em dừng cái lớp bơi lại đã. Phụ huynh lên xã phản ánh. Họ không trách em, nhưng có chuyện thì ai chịu?"

Tôi nói có chuyện là vì các em không biết bơi. Thầy thở dài trong điện thoại.

"Em ở đấy chưa đủ lâu đâu. Tạm dừng. Sang năm tính."

Tôi treo mấy cái can nhựa lên vách nhà công vụ, từng cái một, dây dù quấn gọn. Hai mươi sáu học trò thì tám đứa còn bị bố mẹ giữ ở nhà, sợ đi qua đường ven hồ. Lớp học trống hoác. Tôi giảng bài cho những cái ghế trống mà thấy mình như kẻ có lỗi.

Thứ Năm, cô Thơm đưa tôi về nhà mẹ cô ăn cơm. Mẹ cô Thơm, bà Lường Thị Chiên, hơn sáu mươi, không biết tiếng phổ thông. Cô Thơm ngồi giữa dịch. Tôi hỏi bà về nhà ông mo cũ, về người con dâu tên Ỏn.

Bà Chiên kể rất lâu. Cô Thơm dịch từng đoạn, có đoạn dịch xong thì im, như phải nuốt cái gì xuống.

Ỏn người Than Uyên, lấy chồng về Phiêng Lứa từ năm mười tám tuổi. Chồng chết, chị ở vậy nuôi con, làm nương, giữ chiêng cho bản theo lời bố chồng dặn. Chị cứng tính, nói to, ai bắt nạt là cãi đến cùng. Năm 2008 cán bộ xuống kê khai, chị đi họp đủ. Năm 2009 người ta dán danh sách ở nhà văn hoá, chị bảo không thấy tên nhà mình. Chị lên xã hỏi. Rồi lên huyện hỏi.

"Rồi sao hả bà?"

Bà Chiên vừa nhai cơm vừa nói, giọng đều đều. Cô Thơm dịch.

"Mẹ em bảo, cán bộ nói tên có rồi, viết sót thôi, cứ về chờ. Chị Ỏn về chờ. Gặp ai cũng bảo cán bộ hứa rồi, cán bộ sẽ xuống. Rồi có hôm nghe nói chị bỏ đi Than Uyên. Bản đang dỡ nhà, ai cũng mệt, nghe thế thì thôi."

"Ai nói chị ấy đi?"

Bà Chiên nhìn tôi, lắc đầu. Bà nói một câu ngắn. Cô Thơm dịch: người ta nói, thế thôi.

Tôi hỏi thêm về cái chiêng. Bà Chiên bảo chị Ỏn giữ đến ngày cuối. Có người bảo chị mang theo lên Than Uyên. Có người bảo một cái chiêng to thế, đàn bà mang sao nổi. Nói rồi bà đặt bát xuống, ra ngoài sàn ngồi nhìn hồ, không ăn nữa.

Đêm đó tôi lại nghe tiếng chiêng.

Lần này khác. Không còn là tiếng nồi đồng úp sấp ở xa. Gần hơn, rõ hơn, và không đứng yên. Một tiếng, rồi tiếng nữa dồn ngay sau khi tiếng trước chưa ngân hết, rồi tiếng nữa, gấp, liên hồi, như người đánh trống báo cháy. Như ai đang đứng dưới đáy nước, cầm dùi nện vào chiêng bằng tất cả sức lực, gọi người đến.

Cả bản đều nghe. Tôi biết vì đèn các nhà sàn bật lên cùng lúc, từng ô vàng nhỏ trên sườn đồi. Không ai ra khỏi nhà. Chó không sủa. Tôi đứng ở cửa sổ, hai tay bấu vào song gỗ, nhìn những ô đèn ấy và hiểu rằng cả bản này đã nghe tiếng chiêng ấy nhiều năm rồi. Chỉ có tôi là mới.

Tiếng chiêng dứt đột ngột, như bị ai giật dùi khỏi tay.

Sáng thứ Sáu, chị Én chạy lên trường từ sớm, khi tôi còn đang đun nước. Chị không đi dép. Chân chị lấm bùn đến tận đầu gối, áo cóm cài lệch cúc. Chị túm lấy tay tôi, nói lắp bắp, nửa tiếng Thái nửa tiếng phổ thông, tôi phải bắt chị nói lại ba lần mới hiểu.

Con Lả không có trên giường. Chăn gấp gọn. Đôi dép nhựa của nó vẫn để ở chân cầu thang.

Còn vòng chỉ trắng ông mo buộc cho nó thì chị Én tìm thấy trên bậc cầu thang dưới cùng, đứt làm đôi, ướt sũng, như vừa được ai nhúng xuống nước rồi đặt lên đó.