☾ Truyện Ma Có Thật
← Bản cũ dưới lòng hồ

Chương 6: Đêm trên gò gạo

Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem

Cả bản đi tìm con Lả. Đàn ông chia nhau dọc bờ hồ, đàn bà lên nương, lên rừng tre phía sau bản, gọi tên nó bằng cái giọng kéo dài, khàn đặc. Tôi cho học trò nghỉ, đi theo cô Thơm dọc con đường đất ven hồ, vừa đi vừa nhìn xuống nước. Mỗi khúc gỗ nổi, mỗi đám lục bình, mỗi cái túi ni lông phồng gió làm tim tôi thót lại.

Đến trưa, ông Khiêm gọi mấy người đàn ông mang thuyền ra. Ông không nói đi đâu. Ông chỉ tay ra giữa hồ, về phía ngọn gạo. Mấy người đàn ông nhìn nhau, không ai đứng dậy. Anh Hươn ngồi xổm hút thuốc, mắt đỏ.

"Ban ngày không thấy đâu," một ông nói. "Phải đợi tối."

Tôi hỏi cô Thơm vì sao. Cô Thơm bảo người già tin những gì phi nặm giữ thì ban ngày nó giấu đi. Tôi muốn hét lên rằng con bé có thể đang chết đuối, rằng đợi tối là vô lý. Nhưng tôi nhìn mặt những người đàn ông ấy, những khuôn mặt đen sạm, đã quen chôn người, và tôi im.

Chiều, ông mo Hặc đến bờ hồ. Ông thắp một nén hương cắm vào kẽ đá, khấn rất lâu. Rồi ông bảo những ai xuống thuyền phải buộc chỉ cổ tay. Ông buộc cho từng người. Đến lượt tôi, ông thấy vòng chỉ cũ sờn, ông cắt đi, buộc lại một vòng mới, chặt hơn, ba nút.

"Cô giáo không đi cũng được."

"Cháu đi."

Ông nhìn tôi, gật đầu một cái rất khẽ, như người đã biết trước câu trả lời.

Trời tối hẳn thì ba chiếc thuyền ra hồ. Tôi ngồi thuyền anh Hươn, cùng ông mo và chị Én. Đèn pin, đuốc tre tẩm dầu, một cái đèn bình ắc quy. Máy nổ xành xạch, rồi gần gò thì tắt, chèo vào. Mặt hồ đen, không trăng, chỉ có những vệt sáng đuốc vỡ vụn trên mặt nước.

Ngọn gạo hiện ra trong ánh đèn như một bộ xương khổng lồ giơ tay. Nước đã rút thêm, mỏm gò lộ rộng ra, lầy lội, sáng nhẫy. Và trên mỏm gò, dưới chạc ba của cây gạo, có một người đang ngồi.

Chị Én thét lên. Là con Lả.

Nó ngồi bó gối trên một rễ gạo nổi, mặc bộ quần áo ngủ, người khô ráo. Không một vết bùn. Quanh nó là bùn nhão sâu đến bắp chân, vậy mà nó khô ráo như vừa được ai bế từ trên giường đặt xuống. Nó không nhìn chúng tôi. Nó nhìn sang bên cạnh, vào khoảng trống bên trái nó, mỉm cười, một tay chìa ra nắm lấy không khí.

Thuyền chưa chạm bờ, chị Én đã nhảy xuống, lội bùn ngập đùi. Tôi nhảy theo. Bùn hút chân tôi, lạnh và đặc như cháo nguội. Ông mo ở lại trên thuyền, cầm đuốc giơ cao, miệng khấn không ngừng.

Lả để mẹ ôm, không khóc. Tôi quỳ xuống bùn bên cạnh, cầm tay nó. Bàn tay nó đang nắm không khí lạnh buốt, lạnh hơn cả nước hồ, như vừa cầm một cục đá.

Lúc ấy tôi nghe tiếng chiêng.

Không phải từ xa. Ngay dưới đầu gối tôi. Dưới lớp bùn, dưới cái gò này. Tôi cảm thấy nó trước khi nghe thấy, một rung động rất trầm truyền qua bùn lên xương ống chân, lên đùi, lên bụng. Rồi tiếng ngân vọng lên, đục, nghẹt, như từ một gian phòng kín ngay dưới chỗ tôi quỳ.

Chị Én bế con chạy về phía thuyền. Tôi đứng dậy theo. Đèn pin của anh Hươn quét qua mặt bùn.

Trên mặt bùn, quanh rễ gạo con Lả vừa ngồi, có những dấu chân. Dấu chân trần, nhỏ hơn bàn chân tôi, lớn hơn bàn chân con Lả. Một đôi, đi vòng quanh gốc gạo, rất nhiều vòng, đè lên nhau, như ai đó đã đi quanh cây này suốt nhiều giờ, nhiều đêm. Rồi một vệt dấu chân tách ra, đi thẳng xuống mép nước, phía có nóc nhà sàn ngập dưới hồ. Mũi chân hướng xuống nước.

Không có dấu đi lên.

Tôi đứng nhìn vệt dấu chân ấy cho đến khi ông mo gọi tên tôi hai lần. Giọng ông đanh lại, không còn đều như khấn.

Trên đường về, con Lả ngồi trong lòng mẹ, quấn chăn. Chị Én khóc thút thít, vuốt tóc con. Ông mo ngồi đầu thuyền, quay lưng về phía gò. Không ai nói gì. Gần bờ thì Lả cựa mình, ngẩng đầu, nhìn tôi qua ánh đèn pin. Nó nói bằng tiếng phổ thông, rất rõ, giọng ngái ngủ.

"Cô giáo ơi, chị Ín bảo chị chờ mế chị về đón."

Tim tôi ngừng một nhịp. Ín. Tòng Thị Ín. Cái tên tôi vừa ghi vào vở ba hôm trước.

"Mế chị ấy đi đâu hả em?"

"Mế đi lên chỗ ông cán bộ. Bảo ông cán bộ xuống." Lả nhắm mắt lại, giọng nhỏ dần. "Chị Ín hỏi cô giáo có phải con ông cán bộ không. Chị ấy bảo cô giáo nói giống."