☾ Truyện Ma Có Thật
← Bản cũ dưới lòng hồ

Chương 7: Cuộc gọi lên Than Uyên

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Con Lả ngủ li bì suốt một ngày. Tỉnh dậy, nó không nhớ gì về đêm ở gò gạo. Nó chỉ nhớ có một chị dắt nó đi chơi, chị ấy kể chuyện bản cũ, chị ấy cho nó xem cái vòng. Hỏi chị ấy là ai, nó bảo chị Ín. Hỏi chị Ín là ai, nó ngơ ngác, như thể tôi hỏi một câu ngớ ngẩn.

Ông mo làm lễ gọi vía cho nó thêm lần nữa. Lần này mâm cúng có thêm một con cá nướng và một đôi vòng tay bằng mây đan. Ông bảo phải đổi cho người ta một đôi vòng, người ta mới trả đứa bé.

Tôi không còn tự bảo mình đó là dây rừng, là nước bắn, là loá mắt. Tôi ngồi trong gian nhà công vụ, trải trang vở có ghi tên các nhà bản cũ ra bàn, nhìn dòng chữ Lò Thị Ỏn và cái tên Ón bị gạch đi. Ông Khiêm bảo họ đi Than Uyên. Bà Chiên bảo người ta nói họ đi Than Uyên. Không ai thấy họ đi.

Chiều thứ Bảy tôi sang nhà ông Khiêm. Tôi hỏi ông có cách nào liên lạc với nhà mẹ đẻ bà Ỏn không. Ông nhìn tôi rất lâu, rồi đứng dậy vào buồng, lục trong một cái hòm gỗ, mang ra một cuốn sổ tay bìa nhựa đỏ đã cong mép.

Trong sổ ông ghi số điện thoại của trưởng các bản quen. Có một bản ở Than Uyên. Ông bảo năm ấy đám cưới Ỏn, nhà gái ở bản ấy.

Ông gọi bằng cái điện thoại cục gạch, bật loa ngoài. Ông nói tiếng Thái, chậm, hỏi han dài dòng như mọi cuộc điện thoại của người già. Tôi ngồi chờ, nghe những tiếng lạ trôi qua. Đầu dây bên kia hứa đi gọi. Nửa tiếng sau điện thoại rung, một giọng đàn ông khác, khàn, chừng năm mươi tuổi.

Là Lò Văn Sướng, anh trai bà Ỏn.

Ông Khiêm nói với ông ấy rất lâu. Tôi thấy mặt ông Khiêm thay đổi từng chút. Lúc đầu là cái vẻ hỏi han xã giao. Rồi ông nhíu mày. Rồi ông hỏi lại một câu, giọng gấp. Rồi ông im, cầm điện thoại bằng cả hai tay, đầu cúi xuống như người đang chịu tang.

Cuối cùng ông Khiêm đưa máy cho tôi, bảo ông Sướng biết tiếng phổ thông, cô giáo nói đi.

"Em là giáo viên ở Phiêng Lứa. Em hỏi chị Ỏn với cháu Ín..."

"Nó không về đây." Giọng ông Sướng đanh, nói tiếng phổ thông cứng như người đọc giấy. "Nó chưa bao giờ về. Năm 2009 nó gửi thư, bảo đang chờ tên lên khu mới. Rồi thôi. Tao tưởng nó ở khu tái định cư dưới ấy."

"Không ai đi tìm hả bác?"

Đầu dây kia im. Tôi nghe tiếng gà kêu, tiếng trẻ con khóc, tiếng gió rít qua ống nghe.

"Có. Năm 2011 tao xuống huyện. Hỏi cán bộ di dân. Ông ấy mở sổ ra xem, bảo không có tên ở khu nào hết. Bảo chắc đi tự do, đi Lai Châu hay đi đâu đấy."

"Tao hỏi bản cũ, người ta bảo nhà Ón đi Than Uyên rồi. Tao về Than Uyên hỏi. Có nhà Lò Văn Ón thật. Không phải em tao."

Giọng ông Sướng nghẹn lại một chỗ, rồi tiếp, đều đều.

"Tao tưởng nó đi theo trai. Tao giận nó. Năm năm tao không nói tên nó trong nhà."

Tôi hỏi ông còn nhớ người cán bộ ấy không. Ông Sướng bảo không nhớ tên. Người Kinh, nói giọng dưới xuôi, đeo kính, tay cầm bút cứ run run. Ông ấy lật sổ rất lâu, rất lâu, rồi đóng sổ lại, nhìn ra cửa sổ, bảo không có.

"Ông ấy nói tên em tao sai. Tao sửa. Ông ấy vẫn nói sai."

Rồi ông Sướng hỏi tôi, giọng vỡ hẳn ra, không còn cứng nữa.

"Thế nó ở đâu? Cô giáo, em gái tao ở đâu?"

Tôi không trả lời được. Tôi đưa máy lại cho ông Khiêm. Ông Khiêm nói thêm mấy câu tiếng Thái rồi tắt máy. Hai ông cháu ngồi im trên sàn nhà, nhìn ra cửa. Từ chỗ ấy nhìn thẳng xuống hồ, thấy rõ ngọn gạo, thấy cả mỏm gò. Và chiều nay, bên cạnh gò, nước đã rút đến mức một vệt mái nhà sàn nhô lên khỏi mặt nước, đen sẫm, như sống lưng một con cá chết.

"Năm ấy mưa to," ông Khiêm nói, không nhìn tôi. "Tháng Tám. Nước lên một đêm bằng mười đêm."

"Cả bản đã lên đồi hết rồi. Đêm ấy có tiếng chiêng. Tao nghe. Tao tưởng sấm."

Ông im rất lâu. Rồi ông nói, giọng nhỏ như nói với chính mình.

"Tao là trưởng bản. Tao không đi đếm lại."

Tối ấy tôi về gian nhà công vụ, mở tủ sắt đựng hồ sơ của điểm trường. Tủ cũ, khoá gỉ, giáo viên trước để lại. Tôi lục đến tận đáy, tìm được một chồng sổ chủ nhiệm của những năm trước. Sổ năm học 2009 đến 2010, lớp ba, có tên Tòng Thị Ín. Chữ giáo viên cũ nắn nót. Cả năm em nghỉ có hai buổi.

Sổ năm học 2010 đến 2011, lớp bốn, tên em vẫn được chép vào danh sách đầu năm. Cột điểm danh tháng Chín để trống. Tháng Mười trống. Cuối trang có một dòng ghi chú bằng bút đỏ, chữ khác hẳn chữ trong sổ, vội vàng, nghiêng hẳn về một phía: "Chuyển đi Than Uyên theo gia đình."

Tôi gấp sổ lại. Ngoài cửa sổ, dưới hồ, có ánh sáng.

Một đốm vàng nhỏ, run rẩy, như ánh đuốc tre, đang lập lòe ngay trên vệt mái nhà sàn vừa nhô lên. Nó không trôi đi theo sóng. Nó đứng yên ở đó, như ai đó đang ngồi trên nóc nhà, cầm đuốc, nhìn về phía bản.