☾ Truyện Ma Có Thật
← Bàn tính trong kho thóc

Chương 1: Căn phòng cuối kho

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Tôi về xã Cồn Mây nhận việc vào một buổi chiều cuối tháng Chín năm 2003, trên chiếc xe khách chạy tuyến Vinh đi các xã bãi ngang. Xe thả tôi ở ngã ba chợ, cách biển chừng một cây số. Gió mặn mang mùi cá phơi thổi ngược vào mặt. Tôi xách cái ba lô bộ đội của anh trai, trong có hai bộ quần áo, một cái máy tính bỏ túi và tấm bằng trung cấp tài chính còn mới.

Quê tôi ở Thanh Chương, trên kia, đồi chè với sông Lam. Tôi chưa ở gần biển bao giờ. Người ta nói xã này nghèo, đất cát, thanh niên đi Nam đi Lào gần hết. Kế toán cũ về hưu, chưa ai chịu về thay. Tôi về vì không có chỗ nào khác nhận.

Trụ sở uỷ ban đang đập ra xây lại. Ông chủ tịch xã tên Tạo, người to ngang, nói giọng ồm, dẫn tôi đi qua một bãi gạch vỡ, qua cái sân phơi lát gạch bát đã lún từng mảng, tới một dãy nhà dài mái ngói đỏ.

"Kho thóc hợp tác cũ đó. Chừ làm nhà văn hoá. Eng ngồi tạm trong nớ, cuối năm có phòng mới."

Cái kho dài chừng ba chục thước, tường gạch trát vữa vôi, cao hơn nhà thường gần gấp đôi. Cửa sổ trổ tít trên cao, chấn song sắt đã gỉ đỏ. Nửa đầu kho kê mấy chục cái ghế băng, một cái bục gỗ, tấm phông đỏ có ngôi sao vàng bằng giấy kim tuyến. Nửa cuối ngăn bằng một bức vách ván, trong là chỗ của tôi.

Phòng có một cái bàn gỗ tạp, hai cái tủ sắt, một chiếc giường xếp bằng sắt ai để lại. Nền lát gạch đỏ, mòn lõm ở những lối người ta hay đi. Tôi để ý trên bức tường quét vôi, ngay sau bàn, treo một cái bàn tính gỗ to bằng cánh cửa sổ. Khung gỗ đen bóng, mười ba hàng hạt, mỗi hạt to bằng đốt ngón tay cái.

Hồi học trung cấp, thầy dạy kế toán có mang bàn tính vào lớp cho bọn tôi xem, nói thời ông ai gẩy nhanh thì được làm kế toán hợp tác. Cái của thầy nhỏ bằng quyển vở.

"Cái nớ của hợp tác để lại. Đừng có động vô."

Người nói câu đó là ông Lự, bảo vệ nhà văn hoá. Ông chừng sáu mươi, gầy, lưng thẳng, mặc áo bộ đội đã bạc thành màu cỏ khô. Ông ở một cái chòi lợp lá ngay đầu hồi kho, giữ chìa khoá cả dãy. Ông đưa tôi chìa khoá phòng, rồi đứng nhìn tôi trải chiếu lên giường xếp.

"Eng ngủ trong ni à?"

Tôi nói tôi chưa thuê được chỗ trọ, ở tạm vài tuần. Ông không nói gì. Ông bước tới cái bàn tính, lấy cái khăn vải vắt vai lau từng thanh, rồi đưa ngón tay gạt một lượt, đẩy hết các hạt về phía dưới cho thẳng hàng. Động tác nhanh và gọn, như người ta vuốt lại vạt áo.

"Tối khoá cửa trong. Có nghe chi thì cũng đừng ra."

Đêm đầu tiên ở Cồn Mây, gió từ biển thổi vào suốt. Mái ngói kêu lạo xạo. Tôi nằm trên giường xếp, nghe sóng ầm ì ngoài kia, đều như ai thở qua vách. Mùi muối, mùi vôi ẩm, mùi gỗ cũ. Tôi mệt, nên ngủ nhanh.

Tôi tỉnh vì một mùi khác.

Mùi thóc. Không phải thóc ẩm mốc trong bồ. Mùi thóc mới phơi, cái mùi ngai ngái mà thơm, hơi khét như rơm bắt nắng, mà tôi vẫn ngửi mỗi chiều mùa gặt ở quê khi mẹ cào thóc vào bao. Mùi ấy đặc lại trong phòng, ấm, như vừa có ai đổ một nong thóc nóng ra giữa nền.

Tôi nằm im. Cái kho này bỏ không thóc từ mười mấy năm. Tôi biết vì chiều nay ông Tạo đã nói.

Rồi tôi nghe tiếng gẩy.

Lách cách. Lách cách cách. Tiếng hạt gỗ chạy trên thanh tre, chạm vào nhau, chạm vào khung. Nhanh, chắc, đều tay. Không phải tiếng chuột chạy hay gió lùa. Gió lùa không biết nghỉ đúng chỗ. Tiếng này có nhịp của người đang cộng, gẩy một loạt, dừng nửa hơi như người liếc xuống sổ, rồi gẩy tiếp.

Tôi với lấy cái đèn pin dưới gối. Tay tôi lạnh, phải bấm hai lần đèn mới sáng.

Vệt đèn rọi lên bức tường vôi. Cái bàn tính treo yên đó. Không có ai. Không có hạt nào đang chạy.

Nhưng trong vệt sáng, có những thứ đang rơi. Mảnh, vàng nhạt, lả tả từ trên mái xuống, xoay chầm chậm. Trấu. Vỏ trấu rơi như bụi, đậu lên mặt bàn, lên tóc tôi. Tôi đưa tay lên đỡ. Vỏ trấu trong lòng bàn tay tôi ấm, như vừa ở dưới nắng trưa.

Tôi tắt đèn. Tôi kéo chăn lên tận cằm, không dám quay mặt vào tường. Tiếng gẩy không trở lại. Mùi thóc nhạt dần, nhạt dần, đến gần sáng thì chỉ còn mùi muối.

Sáng ra tôi dậy muộn. Trên nền không có vỏ trấu nào. Mặt bàn sạch. Tôi nghĩ mình mơ, vì đi đường xa, vì lạ chỗ.

Rồi tôi nhìn lên cái bàn tính.

Tối qua ông Lự đã gạt hết các hạt xuống. Tôi thấy tận mắt. Bây giờ, ở bốn hàng bên phải, có hạt đã được đẩy lên. Gọn gàng, thẳng thớm, như một con số người ta tính xong rồi để nguyên đó cho người sau đọc.

Tôi đứng trước nó, đọc từng hàng theo cách thầy dạy. Hàng nghìn: bốn. Hàng trăm: một. Hàng chục: bảy. Hàng đơn vị: không.

Bốn nghìn một trăm bảy mươi.

Cửa phòng kẹt mở. Ông Lự đứng đó, tay cầm cái phích nước. Ông nhìn tôi, rồi nhìn theo mắt tôi lên bức tường. Mặt ông không đổi sắc, nhưng tôi thấy cái phích trong tay ông nghiêng đi, nước nóng nhỏ ra mấy giọt xuống nền.

Ông đặt phích xuống bàn, bước tới, giơ tay gạt một đường. Bốn hàng hạt rơi xuống, kêu một tiếng khô khốc.

"Eng đừng có gẩy cái ni."

"Cháu có gẩy mô."

Ông quay lại nhìn tôi. Mắt ông đục, mí sụp, nhìn lâu như người ta nhìn một con số không chịu khớp.

"Rứa thì tối ni eng ngủ bên chòi tau."