Chương 2: Sổ sách cho khớp
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Chòi ông Lự rộng chừng hai chiếu, vách đất trộn rơm, mái lá dừa. Một cái giường tre, một cái bàn con, một cái bếp dầu. Trên vách phía trong có cái bàn thờ nhỏ đóng bằng gỗ thùng, đặt một bát hương, hai cái chén con. Không có ảnh. Chỗ để ảnh là một khoảng vách sạch hơn xung quanh, hình chữ nhật, như từng có cái khung treo ở đó lâu năm rồi bị gỡ xuống.
Ông trải cho tôi cái chiếu dưới đất. Lúc cúi xuống giúp ông kéo chiếu, tôi thấy dưới gầm giường có một đôi dép nhựa nâu cỡ nhỏ, chân đàn bà, đặt ngay ngắn, mũi quay ra ngoài. Đôi dép cũ đến mức quai đã ngả trắng, nhưng sạch, không có hạt cát nào.
Tôi không hỏi. Người già ở một mình thì nhà nào cũng có vài thứ không nên hỏi.
Đêm ấy tôi ngủ chập chờn vì muỗi. Gần nửa đêm tôi mở mắt, thấy ông Lự không nằm trên giường. Ông ngồi trên cái ghế đẩu ở cửa chòi, lưng quay vào trong, mặt hướng về đầu hồi kho thóc. Ông ngồi rất thẳng, hai tay đặt trên đầu gối.
Gió đổi chiều, thổi từ phía kho sang. Tôi ngửi thấy mùi thóc phơi. Nhẹ hơn đêm trước, loãng trong gió mặn, nhưng không nhầm được.
Ông Lự không quay lại. Tôi nghe ông nói nhỏ một câu, như nói với cái kho chứ không nói với tôi.
"Thôi. Ngủ đi."
Tôi không biết ông bảo ai.
Ban ngày tôi bận đến mức quên chuyện đêm. Sổ thu chi của xã để ba năm chưa quyết toán. Thuế nhà đất thu thiếu, quỹ an ninh quốc phòng thu thừa, khoản đóng góp làm đường liên thôn có hai con số khác nhau ở hai quyển sổ. Kế toán cũ về hưu rồi ra Hải Phòng ở với con, gọi điện không ai nghe.
Tôi ngồi gõ máy tính bỏ túi từ sáng đến chiều. Cái máy kêu tí tách, nhỏ và mỏng, nghe như đồ chơi giữa cái kho cao vòi vọi.
Chiều thứ ba, ông Tạo xuống. Ông đứng sau lưng tôi, nhìn đống sổ, nhìn mấy tờ giấy tôi ghi chênh lệch. Rồi ông đặt bàn tay to bè lên vai tôi.
"Eng mới về, eng chưa biết. Ở cái xã ni, sổ sách là để cho khớp. Kế toán giỏi là kế toán biết làm cho khớp. Hiểu không?"
Tôi nói cháu hiểu. Tôi không hiểu hẳn, nhưng tôi biết lúc ấy phải nói vậy.
Ông đi rồi, tôi ngước lên, thấy cái bàn tính trên tường. Các hạt nằm yên ở dưới, thẳng hàng như ông Lự gạt từ sáng hôm trước.
Cạnh cửa kho có treo một tấm bảng gỗ quét sơn đen, ghi lịch trực bảo vệ và lịch mượn hội trường. Chữ phấn của ông Lự, nét nghiêng, đều, chữ của người từng viết nhiều. Tôi để ý cách ông viết số. Số bảy có một gạch ngang cắt qua thân, kiểu người học chữ từ thời trước. Số bốn hở đầu, như cái ghế bị gãy tựa.
Tôi để ý vì hồi đi học tôi cũng bị thầy bắt viết số bảy có gạch, cho khỏi lẫn với số một. Lên trung cấp tôi bỏ.
Tôi hỏi ông Lự hồi trẻ làm gì. Ông nói đi bộ đội, về thì làm xã viên, cày ruộng, đánh cá, làm đủ thứ. Ông nói câu ấy vừa nhanh vừa gọn, rồi bỏ đi tưới cây vạn tuế trước sân.
Đến đêm thứ tư, tôi về ngủ lại trong kho. Một phần vì ngại ngủ đất nhà người ta mãi. Một phần vì tôi hai mươi ba tuổi, học trường tài chính, không muốn tin cái bàn tính tự gẩy.
Tôi làm một việc mà bây giờ nghĩ lại thấy trẻ con. Trước khi tắt đèn, tôi gạt hết các hạt xuống như ông Lự. Rồi tôi lấy cuộn chỉ khâu trong ba lô, căng một sợi chỉ đen ngang khung bàn tính, sát trên các hạt, buộc chặt hai đầu vào hai cái đinh của khung. Hạt nào muốn lên thì phải đứt chỉ.
Tôi khoá cửa trong, chèn thêm cái ghế. Tôi nằm, đèn pin để trên ngực.
Gió đêm ấy lặng. Không có sóng. Tôi nghe được cả tiếng con thạch sùng chép miệng trên xà.
Không biết bao lâu thì mùi thóc đến. Lần này nó đến từ dưới nền, như hơi nóng bốc lên từ một cái sân phơi lúc chiều tắt nắng. Tôi đặt bàn tay xuống viên gạch cạnh giường. Viên gạch ấm. Đêm tháng Mười ở bãi biển mà viên gạch ấm như có người vừa ngồi lên.
Rồi tiếng gẩy.
Lần này tôi không bật đèn ngay. Tôi nằm nghe. Tiếng hạt chạy, gõ vào nhau, dừng, chạy tiếp. Rất nhiều lần. Từng loạt ngắn, mỗi loạt vài tiếng, như cộng những số nhỏ, cộng mãi, cộng mãi. Tôi đếm được hơn chục loạt thì không đếm nữa, vì tay chân tôi đã lạnh đến mức không nghĩ được gì.
Tôi bật đèn.
Bàn tính đứng yên. Sợi chỉ đen vẫn căng ngang khung. Trấu lại rơi, lả tả trong vệt đèn.
Sáng hôm sau sợi chỉ vẫn nguyên. Hai nút buộc vẫn ở chỗ cũ, tôi kéo thử thấy chặt.
Nhưng dưới sợi chỉ, bốn hàng hạt bên phải đã được đẩy lên. Bốn, một, bảy, không. Hạt nằm sát vào sợi chỉ, như có ai đã đẩy chúng xuyên qua nó mà không làm nó rung.
Tôi gỡ sợi chỉ ra, tay run làm nút buộc thứ hai rối lại. Tôi không gạt bàn tính. Tôi để nguyên con số đó, đi ra sân, đứng giữa nắng một lúc lâu.
Khi tôi quay vào để lấy sổ, trên mặt bàn, cạnh cái máy tính bỏ túi, có mấy hạt thóc. Năm hạt, vàng óng, căng mẩy. Tôi nhặt một hạt lên. Nó ấm.
Trong kho không có một bao thóc nào. Mùa gặt ở Cồn Mây đã xong từ tháng trước.