Chương 10: Đêm Trung thu
Khoảng 4 phút đọc·2lượt xem
Rằm tháng Tám năm đó rơi vào thứ Sáu. Một trăm bốn mươi cái bánh giao xong từ chiều. Tôi chạy sáu chuyến, ràng hộp bánh sau yên, giao khắp Quận 4, Quận 8, có hộp tận Quận 1. Lần nào giao xong tôi cũng nhắn về cho anh Nhân một chữ: xong. Anh nhắn lại một chữ: ừ. Tới chuyến thứ sáu, anh nhắn thêm: chạy chậm thôi em.
Tối, hẻm Quận 4 rực đèn lồng. Con nít trong hẻm cầm đèn ông sao, đèn cá chép, đèn con thỏ chạy rần rần. Anh Nhân để dành bốn chục cái bánh nhỏ, nhân lá dứa đậu xanh, phát cho tụi nhỏ. Anh kê cái bàn nhựa trước cửa tiệm, bày bánh lên khay. Thảo với tôi đứng phát. Tụi nhỏ xếp hàng, đứa nào cũng giơ hai tay ra, nói cảm ơn chú Nhân thiệt to.
Bà Sáu Hường cũng ra. Bà đứng dưới giàn bông giấy, quạt phành phạch, nhìn tụi nhỏ. Anh Nhân bưng qua cho bà một cái bánh. Bà cầm, cắn một miếng, nhai chậm, rồi đứng im.
"Bánh này giống bánh má mày làm."
"Dạ. Khuôn của má con."
Bà Sáu không nói gì nữa. Bà cầm cái bánh, đi vô nhà.
Còn mẻ bánh cuối, hai chục cái cho mấy nhà cuối hẻm. Anh Nhân vô bếp canh lò. Tôi ở ngoài phát bánh. Tụi nhỏ ca bài Rước đèn tháng Tám, hát sai lời be bét, tôi đứng cười.
Rồi tôi ngửi thấy mùi khét.
Không phải mùi bánh cháy. Mùi nhựa cháy, hăng hắc, xộc lên mũi. Tôi quay lại. Từ khe cửa bếp, một làn khói xám mỏng đang bò ra.
"Anh Nhân!"
Tôi chạy vô. Góc bếp đã sáng rực. Cái ổ điện quấn băng keo hôm trước giờ là một cục lửa nhỏ. Lửa bén qua chồng hộp giấy đựng bánh xếp sát tường, rồi lên tấm rèm vải che kệ đồ khô. Khói đen cuồn cuộn dưới trần.
Anh Nhân đang cầm cái bình chữa cháy đỏ, giật chốt, bóp cò. Bình chỉ phì ra một tiếng, rồi im. Anh bóp lần nữa. Không có gì.
"Ra ngoài!" Tôi hét. "Anh ra ngoài!"
Anh quăng cái bình, chụp cái xô nhựa, hứng nước ở vòi rửa. Nước chảy yếu xìu. Anh hắt nửa xô lên tấm rèm. Lửa xèo một tiếng, rồi bùng lên ở chỗ khác.
Ngoài hẻm, tụi nhỏ bắt đầu la. Có người lớn chạy tới. Có người hô gọi cứu hỏa. Có người khác nói xe cứu hỏa vô hẻm này không lọt, phải đậu ngoài đường lớn, kéo vòi vô cả trăm thước.
Tôi đứng giữa cửa bếp, đầu óc quay cuồng. Trong hẻm này, nhà nào có bình chữa cháy? Tôi không biết. Tôi không biết hẻm này bằng anh Nhân. Nhưng tôi biết đường. Tôi biết chỗ nào chắc chắn phải có bình chữa cháy còn hạn, nhiều, ngay bây giờ.
Trạm xăng.
Trạm xăng đầu đường Tôn Thất Thuyết, cách hẻm năm trăm thước. Tôi đổ xăng ở đó gần bốn năm. Anh Lực bảo vệ quen mặt tôi, lần nào cũng chọc tôi đổ hai chục nghìn mà làm như đổ đầy bình. Ở trạm đó, mỗi trụ bơm có hai bình chữa cháy treo sẵn, cạnh đó còn một xe đẩy bình lớn.
"Thảo! Coi tụi nhỏ, đẩy tụi nó ra đầu hẻm!"
Tôi lao ra xe. Đề máy. Chiếc xe số rú lên. Tôi phóng ngược ra đầu hẻm, bóp còi liên tục, người trong hẻm dạt sang hai bên. Tôi không quẹo ra đường lớn mà rẽ vô con hẻm nhỏ xíu bên hông chợ, cái hẻm chỉ vừa một chiếc xe máy, thông thẳng ra trạm xăng. Đi đường lớn phải vòng qua ngã tư, mất thêm hai phút.
Tôi phóng vô trạm xăng như phóng vô đích. Anh Lực đang ngồi trên ghế nhựa ăn bánh trung thu, thấy tôi thì đứng bật dậy.
"Ớt! Mày làm gì..."
"Cháy! Tiệm bánh trong hẻm cháy! Anh cho em mượn bình, em đền, em thề!"
Anh Lực không hỏi thêm câu nào. Anh giật hai cái bình bột trên trụ bơm gần nhất, quăng cho tôi một cái. Rồi anh tự xách cái thứ hai, nhảy lên chiếc xe máy của anh.
"Chỉ đường! Tao chạy theo!"
Tôi kẹp cái bình đỏ giữa hai chân, phóng ra. Anh Lực bám sát sau lưng. Lần này tôi quay về bằng đúng con hẻm nhỏ đó. Cái bình chữa cháy lạnh ngắt trên đùi tôi, nặng trịch. Tay tôi run trên tay ga. Từ lúc chạy đi tới giờ chắc chưa được ba phút. Mà ba phút này dài hơn cả buổi chiều đẩy xe chết máy dưới chân cầu.
Tôi quẹo vô hẻm. Người đứng chật hai bên. Tụi nhỏ đã được dồn ra đầu hẻm, đèn lồng vẫn cầm trên tay, mặt đứa nào cũng ngơ ngác. Khói từ cửa tiệm Thành Nhân cuồn cuộn bốc ra, đen đặc, che mất cả tấm bảng hiệu sơn tay.
Tôi nhảy xuống xe, ôm cái bình chạy tới. Thảo chạy ra đón tôi, mặt lem nhem nước mắt và tro.
"Chị Ớt ơi! Anh Nhân còn ở trong!"
"Sao ảnh không ra?"
"Ảnh ra rồi! Ảnh ra rồi mà ảnh chạy vô lại! Ảnh nói cuốn sổ, cuốn sổ của má ảnh còn trong tủ!"