Chương 11: Hộp thiếc trong khói
Khoảng 4 phút đọc·2lượt xem
Tôi không nhớ mình đã nghĩ gì lúc đó. Có lẽ tôi không nghĩ gì hết. Tôi chỉ nhớ mình giật cái khăn rằn quấn cổ, nhúng vô thau nước của nhà bên cạnh, bịt lên mũi miệng. Anh Lực la tôi đứng lại. Tôi không đứng lại.
"Anh xịt cửa trước! Em vô trong!"
Tôi giật chốt bình, ôm nó sát người, cúi thấp, lao qua cửa tiệm. Khói đen đặc tới mức tôi chỉ thấy được một cánh tay trước mặt. Mắt cay xè. Nóng hầm hập, như mở cửa lò nướng mà đút đầu vô.
Tôi bóp cò. Bột trắng phụt ra thành một đám mây. Tôi xịt vô góc bếp, chỗ ánh lửa đỏ nhất. Lửa trên tấm rèm tắt phụt. Lửa trên chồng hộp giấy lùi lại, rồi tắt. Sau lưng tôi, anh Lực cũng xịt vô từ cửa. Hai đám bột trắng gặp nhau giữa bếp.
"Anh Nhân! Anh đâu?"
Tôi nghe tiếng ho. Ở góc trong cùng, cạnh cái tủ gỗ đựng đồ khô, có một cái bóng ngồi co ro dưới đất. Tôi bò tới. Anh Nhân ngồi đó, hai tay ôm khư khư một vật vuông vức trước ngực. Cái hộp thiếc đựng bánh quy cũ, cái hộp anh cất thẻ nhớ phòng hờ hôm trước.
"Đi! Đi ra!"
Tôi kéo tay anh. Anh đứng dậy, loạng choạng, ho sặc sụa. Tôi quàng tay anh lên vai mình, lôi đi. Anh nặng hơn tôi tưởng. Hai đứa vấp vô cái xô nhựa, suýt té. Rồi có ánh đèn trước mặt, có tiếng người, có không khí. Có ai đó đỡ lấy anh Nhân từ tay tôi.
Tôi quỵ xuống lề hẻm, ho tới chảy nước mắt. Bà Sáu Hường không biết từ đâu chạy tới, dúi vô tay tôi ly nước. Tôi uống, sặc, uống tiếp.
Mười lăm phút sau, xe cứu hỏa tới đầu hẻm. Mấy anh lính cứu hỏa kéo vòi vô, nhưng lửa đã tắt. Họ đi vô kiểm tra, rồi đi ra, nói may mà dập kịp, chậm năm phút nữa là lan qua nhà bên. Một anh đội trưởng hỏi ai dập. Bà Sáu chỉ tôi với anh Lực. Anh đội trưởng nhìn tôi từ đầu tới chân, cả người dính đầy bột trắng như cái bánh vừa lăn bột.
"Lần sau đừng có chạy vô. Nguy hiểm lắm, biết chưa?"
"Dạ biết. Mà có người ở trong."
Anh đội trưởng thở dài, không nói gì thêm.
Anh Nhân ngồi trên bậc thềm nhà bên cạnh. Người ta đã lau mặt cho anh, nhưng tóc anh vẫn xám tro. Mu bàn tay trái anh đỏ lựng, phồng một bóng nước to bằng đồng xu. Anh vẫn ôm cái hộp thiếc trên đùi.
Tôi đi tới, đứng trước mặt anh. Tôi muốn la anh. Tôi muốn la thiệt lớn cho cả hẻm nghe. Nhưng tôi mở miệng ra thì giọng tôi run.
"Anh khùng hả? Cuốn sổ quan trọng hơn cái mạng anh hả?"
Anh ngước lên nhìn tôi. Mắt anh đỏ hoe vì khói.
"Không phải chỉ có cuốn sổ."
Anh mở nắp hộp thiếc. Bên trong là cuốn sổ bìa nâu, mép bị sém đen một góc nhỏ. Dưới cuốn sổ là cái thẻ nhớ chép đoạn phim hôm trước. Và một tấm hình cũ, hình một người đàn bà tóc búi đứng trước cửa tiệm bánh, ôm một thằng nhỏ chừng mười tuổi.
"Má tôi. Tấm hình duy nhất."
Tôi ngồi xuống cạnh anh. Không ai nói gì nữa. Tụi con nít đã về hết, chỉ còn mấy cái đèn lồng ai đó bỏ quên, treo trên cột điện, lắc lư trong gió.
Đêm đó, người trong hẻm ở lại phụ dọn tới hai giờ sáng. Bà Sáu nấu một nồi cháo trắng, bưng ra cho mọi người. Anh Lực xách hai cái bình rỗng về trạm, không chịu lấy tiền, chỉ đòi một hộp bánh trung thu. Thảo về nhà, khóc suốt đường về. Thằng Tùng chạy xe qua, phụ khiêng đồ, rồi chở Thảo về giùm tôi.
Tôi bôi thuốc phỏng lên tay anh Nhân. Anh ngồi im cho tôi bôi, ngoan như con nít. Tay anh dài, ngón tay có những vết sẹo nhỏ xíu, vết cũ vết mới chồng lên nhau. Tay của người cả đời đứng bếp.
"Đau hông?"
"Không."
"Xạo."
"Chừng... chừng chừng."
Tôi bật cười. Anh cũng cười. Rồi cả hai im, vì không biết cười như vậy giữa cái bếp cháy đen có kỳ không.
Kiểm kê lúc sáng sớm: lò nướng phụ hỏng hẳn, tủ đồ khô cháy một nửa, toàn bộ hộp giấy, giấy nến, nguyên liệu khô thành tro. Lò nướng chính ở góc kia còn chạy được. Bàn inox còn nguyên. Tường bếp đen thui, phải cạo sơn lại. Anh Nhân ngồi tính. Tiền sửa ổ điện, thay đường dây, mua lò mới, mua nguyên liệu, chừng ba chục triệu.
"Ba mươi mốt triệu bốn trăm," anh sửa lại.
Tôi không cãi. Ba mươi mốt triệu bốn trăm, lấy từ sáu mươi hai triệu tiền tiết kiệm. Còn lại chưa đầy một nửa. Cách hai trăm mười sáu triệu bà Sáu đòi càng xa hơn.
Chín giờ sáng, bà Sáu Hường tới. Lần này bà không mặc đồ bộ, không cầm quạt nan. Bà mặc áo bà ba lụa màu tím, tay cầm một tập giấy. Đi bên cạnh bà là một người đàn ông lạ, mặc sơ mi xám, tay xách cặp da.
Tôi nhận ra ông ta. Người đàn ông đứng ở đầu dãy sạp xôi chợ Xóm Củi hôm nọ.
"Thằng Nhân," bà Sáu nói, giọng không lớn mà lạnh tanh. "Nhà bà mày làm cháy. Theo hợp đồng, bên thuê làm hư hại nhà là bên cho thuê được lấy lại nhà trước hạn. Ông đây là người bên Kim Hương. Họ chịu sửa nhà, chịu dọn vô liền. Mày dọn đi trong tháng này."