Truyện Ma Có Thật
← Năm tầng bánh giữa mùa mưa

Chương 9: Gam và chừng chừng

Khoảng 4 phút đọc·2lượt xem

Tôi tới tiệm lúc bảy giờ tối. Cửa kéo đã hạ một nửa. Thảo về rồi. Trong bếp chỉ còn ngọn đèn vàng trên bàn inox, anh Nhân ngồi trên cái ghế đẩu, trước mặt là khay Mưa Quận Tư còn nguyên mười hai miếng.

Tôi không hỏi han gì. Tôi kéo cái ghế đẩu khác, ngồi xuống đối diện anh, lấy một miếng bánh, ăn.

"Ngon," tôi nói, miệng đầy bánh. "Ngon hơn cái bánh sáu mươi lăm nghìn kia gấp mười lần. Mà cái đó mặn chát."

Anh nhìn tôi ăn. Tôi lấy miếng thứ hai.

"Anh biết sao người ta hủy đơn hông? Tại người ta đọc trên mạng. Mà người đọc trên mạng là người chưa ăn bánh anh. Giờ mình phải cho người ta ăn."

"Cho ai ăn?"

"Khách tui. Một ngày tui chở hai chục người. Bà bán vé số, ông chạy ba gác, mấy cô công nhân, mấy đứa sinh viên. Mỗi người một miếng. Ăn rồi người ta nói cho người khác. Người ta không đọc mạng, người ta nói miệng."

Anh im một lúc. Rồi anh nói, giọng nhỏ.

"Cho không thì lỗ."

"Lỗ một khay bánh. Còn hơn lỗ cái tiệm."

Sáng hôm sau tôi chở theo một hộp bánh cắt nhỏ, gói từng miếng trong giấy nến. Khách nào lên xe tôi cũng mời một miếng. Bà Chín bán vé số ở chợ Bình Tây ăn xong hỏi mua chỗ nào. Ông Ba chạy ba gác đường Bến Vân Đồn ăn hai miếng, lấy số điện thoại tiệm. Mấy đứa sinh viên ở ký túc xá Quận 7 chụp hình, đăng lên trang của trường.

Một tuần sau, khay Mưa Quận Tư hết sạch trước mười giờ sáng.

Rồi Trung thu tới gần. Anh Nhân lôi từ đáy tủ ra một cái khuôn bánh trung thu bằng gỗ, lâu năm tới mức lên nước bóng loáng. Khuôn của má anh. Anh nói năm nào má anh cũng làm bánh nướng nhân lá dứa đậu xanh, chỉ làm cho người trong hẻm. Từ ngày bà mất, anh không làm nữa.

"Năm nay làm," tôi nói. "Tui đi gom đơn."

Tôi gom được một trăm bốn mươi cái bánh. Anh Nhân nhìn tờ giấy ghi đơn, mặt méo xệch. Một mình anh với Thảo không làm kịp. Tôi xắn tay áo.

"Tui phụ."

"Cô biết làm bánh hả?"

"Hổng biết. Mà tui biết nấu chè. Chè với bánh cũng là đường với bột chớ gì."

Anh nhìn tôi như nhìn một con mèo đòi lái xe hơi. Nhưng anh không cản.

Tối đầu tiên là một thảm họa. Anh giao tôi sên nhân đậu xanh. Anh đưa tờ giấy ghi rõ đậu bao nhiêu gam, đường bao nhiêu gam, dầu bao nhiêu mi li lít. Tôi liếc qua, rồi bỏ tờ giấy qua một bên. Má tôi nấu chè ba chục năm có cân bao giờ đâu. Tôi đổ đường chừng chừng, đổ dầu chừng chừng, đảo chừng chừng.

Anh Nhân đi ngang, nhìn vô nồi, đứng sững.

"Cô cho bao nhiêu đường?"

"Chừng... chừng một chén."

"Chén nào?"

Tôi chỉ cái chén ăn cơm trên kệ. Anh nhìn cái chén, nhìn nồi nhân, rồi nhắm mắt lại như người đau răng. Anh lấy muỗng nếm. Rồi mặt anh đổi sắc.

"Ngọt quá. Mà... thơm."

"Thơm hả?"

"Thơm. Cô đảo lâu nên đậu ra mùi. Tôi chưa bao giờ đảo lâu vậy. Tôi canh giờ."

Anh lấy cuốn sổ bìa nâu, mở một trang trắng, ghi tên món, ghi ngày tháng. Rồi anh quay qua tôi, cây bút lơ lửng.

"Cô đảo bao lâu?"

"Chừng... tới khi mỏi tay."

Anh ghi vô sổ đúng mấy chữ đó. Tới khi mỏi tay. Rồi anh ngồi nhìn dòng chữ, và lần đầu tiên tôi nghe anh cười thành tiếng. Tiếng cười nhỏ, khục khặc, như cái máy lâu ngày không chạy.

Mấy đêm sau đó, tôi chạy xe tới chiều, tối ghé tiệm làm tới khuya. Anh dạy tôi cân. Tôi dạy anh nếm. Anh nói tôi đổ bột như đổ cát. Tôi nói anh rắc mè như đếm tiền. Thảo đứng giữa, cười tới đau bụng.

Một đêm trời mưa, làm xong mẻ cuối thì gần mười một giờ. Bụng hai đứa đói meo. Anh nấu hai tô hủ tiếu, nước lèo từ xương anh hầm sẵn buổi chiều. Hai đứa ngồi ăn trên bậc thềm tiệm, kéo cửa lên một nửa, nhìn mưa rơi trên hẻm. Đèn đường vàng, mưa bạc, hơi hủ tiếu bốc lên mặt.

"Anh nấu hủ tiếu cũng cân hả?"

"Cân. Hành phi mười gam."

"Trời ơi."

Anh cười. Rồi anh nói, mắt vẫn nhìn mưa.

"Em... cô... tôi quen gọi cô rồi."

"Thì đổi. Có gì đâu mà khó."

Anh im. Mưa rơi lộp độp trên mái tôn. Rồi anh nói rất nhỏ, gần như lẫn vô tiếng mưa.

"Em Ớt."

Tôi suýt sặc nước lèo. Tôi quay mặt đi, giả bộ ngó trời. Mặt tôi nóng ran, chắc tại hủ tiếu nóng.

Đêm trước Trung thu, mẻ bánh cuối cùng đang trong lò. Tôi đang xếp bánh vô hộp thì nghe một tiếng tách nhỏ ở góc bếp. Cái ổ điện cắm lò nướng phụ lóe lên một tia lửa xanh, rồi tắt.

Anh Nhân rút phích ra, nhíu mày nhìn cái ổ cháy sém một góc. Anh nói đã báo bà Sáu ba lần. Anh lấy băng keo quấn lại tạm, nói xong Trung thu sẽ tự gọi thợ sửa.

Tôi ngó qua cái bình chữa cháy đỏ treo trên tường. Kim đồng hồ áp suất nằm trong vạch đỏ.

"Bình này hết hạn rồi anh."

"Tôi đặt bình mới rồi. Người ta hẹn tuần sau giao."

Tôi định nói gì đó, nhưng chuông lò reo. Bánh chín. Tôi quên mất cái ổ điện.