Chương 7: Bảy gam muối
Khoảng 5 phút đọc·2lượt xem
Tôi tấp xe vô lề, đứng nhìn tấm bảng điện tử một hồi lâu. Khách ngồi sau tôi, một cậu sinh viên, hỏi chị ơi sao dừng. Tôi xin lỗi, chạy tiếp, thả cậu ở trường rồi quay ngược lại.
Chi nhánh Kim Hương lạnh như tủ đông. Sàn đá trắng, đèn vàng, nhân viên mặc đồng phục màu kem, đội mũ nồi nhỏ. Tôi đứng giữa tiệm trong bộ áo khoác chống nắng bạc màu, quần dài sờn gối, nón bảo hiểm còn ôm trong tay. Cô nhân viên nhìn tôi một cái, rồi nở nụ cười đúng chuẩn.
"Dạ chị dùng gì ạ?"
"Cho tui một miếng Mưa Sài Gòn."
"Dạ, sáu mươi lăm nghìn một miếng ạ."
Tôi móc tiền trả, tay hơi run. Sáu mươi lăm nghìn bằng ba cuốc xe ngắn. Miếng bánh được bỏ vô hộp giấy màu vàng, thắt nơ ruy băng. Tôi cầm hộp bánh chạy một mạch về hẻm Quận 4.
Anh Nhân đang nhồi bột. Tôi đặt hộp bánh lên bàn inox, không nói gì, chỉ chỉ vô cái nơ vàng. Anh rửa tay, chùi khô, mở hộp. Anh nhìn miếng bánh rất lâu. Rồi anh cầm nĩa, cắt một góc nhỏ, đưa lên miệng.
Tôi đứng nhìn mặt anh. Lúc đầu anh nhai chậm, mắt nhắm hờ, như người nếm rượu. Rồi anh mở mắt. Rồi anh ngưng nhai.
"Mặn."
"Mặn hả?"
"Mặn. Bảy gam muối."
Tôi chưa kịp hiểu thì anh đã quay đi, lục ngăn tủ lấy cuốn sổ bìa nâu. Anh lật tới trang Mưa Quận Tư, chỉ vô con số bảy được khoanh tròn, cái con số anh ghi nhầm từ năm 2016 mà lười sửa.
"Lá dứa, dừa non, mè đen, tỷ lệ bột và trứng giống tôi tới từng gam. Mà người ta làm theo đúng con số sai. Người ta không biết đó là con số sai. Ai biết công thức này mà không biết bốn gam mới đúng?"
Anh nói nhanh, nhanh hơn mọi khi. Bàn tay anh đặt trên trang sổ, ngón tay cái miết lên con số bảy như muốn chà cho nó mất đi.
"Chỉ có người đọc cuốn sổ này," anh nói. "Mà không đứng bếp với tôi lúc tôi làm món này."
"Mấy người đọc được cuốn sổ?"
"Tôi. Thảo không bao giờ mở. Với..."
Anh không nói hết. Không cần nói hết. Tôi biết cái tên anh không nói ra.
Thằng Duy đứng bếp ba năm. Nhưng Mưa Quận Tư, anh kể, từ hồi Duy vô làm anh đã giao cho nó tự làm mỗi sáng. Nó làm theo sổ. Có khi nào nó chép sổ mà không đọc con số khoanh tròn kỹ? Hay nó thấy, nó biết, nhưng ai đó lại đọc theo bản chép của nó?
Lúc đó tôi chưa nghĩ được xa như vậy. Lúc đó tôi chỉ thấy tức.
"Đi."
"Đi đâu?"
"Đi coi Kim Hương. Coi cái bếp của họ. Coi ai đứng trong đó."
Anh lắc đầu. Anh nói anh không muốn làm ầm. Anh nói người ta có tiền, có luật sư, mình đi tới đó chỉ bị đuổi ra. Tôi nói tôi không làm ầm, tôi chỉ coi. Tôi kéo tay anh. Anh đứng im một chút, rồi cởi tạp dề.
Kim Hương có một xưởng bánh lớn ở Quận 7, gần khu chế xuất. Tôi biết vì tôi từng chở một cô công nhân ca đêm tới đó. Xưởng có bức tường kính lớn nhìn ra đường, để khách đi ngang thấy bếp sạch sẽ, thợ bánh mặc áo trắng làm việc như trong phim. Đó là chiêu quảng cáo của họ.
Chúng tôi tới lúc năm giờ chiều. Nắng xiên qua bức tường kính. Bên trong, hơn chục người thợ đứng thành hàng dọc theo những cái bàn inox dài. Có người đánh kem, có người cắt bánh, có người xếp khay vô lò.
Anh Nhân đứng bên kia đường, dưới gốc cây dầu. Anh không bước tới. Anh chỉ nhìn. Tôi nhìn theo hướng mắt anh.
Ở cái bàn thứ ba từ cửa vô, một người thợ trẻ đang rắc mè đen lên một khay bánh bông lan màu xanh lá. Cậu ta ốm, cao vừa, đội mũ trắng. Cậu rắc mè bằng ba ngón tay, xoay cổ tay một vòng nhỏ. Đúng cái kiểu anh Nhân rắc mè.
Anh Nhân đứng im như tượng. Tôi nghe anh thở ra một hơi dài, rất khẽ.
"Duy."
Như nghe được tiếng gọi qua lớp kính và con đường, cậu thợ trẻ ngẩng đầu lên. Cậu nhìn ra ngoài. Cậu thấy anh Nhân. Tôi thấy rõ mặt cậu ta biến sắc. Cái muỗng nhỏ trong tay cậu rớt xuống khay bánh, mè đen văng ra bàn.
Rồi cậu quay lưng đi, bước nhanh vô phía sau xưởng, mất hút sau một cánh cửa.
Anh Nhân đứng thêm vài phút. Rồi anh quay ra xe, ngồi lên yên sau, không nói một tiếng. Tôi chở anh về. Suốt đường về, anh không nói gì. Lúc dừng ở đèn đỏ Khánh Hội, tôi cảm thấy trán anh tựa nhẹ vô lưng tôi, chỉ một giây, rồi anh ngồi thẳng lại.
Về tới tiệm, anh đi thẳng vô bếp. Anh lấy cây bút bi, mở cuốn sổ bìa nâu, gạch con số bảy, viết số bốn bên cạnh. Viết thật đậm. Rồi anh ngồi đó, nhìn trang sổ.
"Ba năm," anh nói, không nhìn tôi. "Tôi dạy nó ba năm."
Tôi muốn nói gì đó. Nhưng tôi nhớ tới cô Năm bán xôi ở chợ Xóm Củi, nhớ tới bàn tay đầy vết bỏng của thằng con cô. Tôi nhớ có lần cô ngồi cạnh má tôi, thở dài, nói nhà cô đang thiếu nợ người ta một khoản lớn, tiền mổ chân năm ngoái. Lúc đó tôi nghe rồi quên.
Tối đó, điện thoại tôi rung lên. Một tin nhắn từ số lạ, không tên.
"Chị đừng dẫn anh Nhân tới đó nữa. Không tốt cho ảnh đâu."