Chương 5: Trưa hè năm chín sáu
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Nhà bà Lụa ở cuối một con ngõ đất dưới chân đồi, cách bể bơi chừng năm trăm mét. Nhà cấp bốn, mái ngói đã xô, tường quét vôi vàng loang lổ. Trước sân có cây nhãn, dưới gốc nhãn kê một cái chõng tre. Bà ở một mình. Chồng bà mất từ hồi Cường còn nhỏ, con gái lớn đi lấy chồng trong Sài Gòn.
Bà mời tôi ngồi chõng, vào trong bê ra một mâm cơm nhỏ. Một bát cơm trắng, một đĩa rau muống luộc, mấy con tép rang. Bà đặt mâm lên cái ghế đẩu ở đầu chõng, đặt đôi đũa ngay ngắn, không mời tôi ăn, cũng không ăn.
"Cơm của nó đấy. Trưa nào tôi cũng dọn. Lỡ nó về."
Bà ngồi xuống, kể chậm rãi, như đã kể với chính mình nhiều lần.
"Hè năm chín sáu. Tháng Sáu, nắng như đổ lửa. Thằng Cường mười một tuổi, vừa lên lớp sáu. Nó nghịch nhưng ngoan, bơi giỏi nhất xóm."
"Trưa hôm ấy tôi đi cấy về mệt, nằm thiếp đi. Tôi dặn nó không được ra hồ. Nó dạ. Lúc tôi tỉnh dậy, cái chõng này trống trơn."
Bà chỉ tay ra phía đồi.
"Ngày ấy bọn trẻ con có trò thi nín thở. Chúng nó khoan được cái cọc sắt vào vách đá, buộc một sợi dây thừng, thả xuống tận cái gờ dưới đáy. Đứa nào chơi thì cầm một hòn cuội, bám dây tụt xuống, đặt hòn cuội lên gờ. Ai chịu không nổi lên trước là thua, mất hòn cuội cho đứa kia. Tôi biết. Tôi đánh nó mấy lần vì cái trò ấy rồi."
Bà im lặng một lúc. Con gà mái dưới gốc nhãn bới đất kêu cục cục.
"Hai ngày sau người ta mới vớt được nó. Nó mắc dưới gờ đá, ở cái góc sâu nhất, ngay chỗ bây giờ là góc bể bơi ấy. Chân nó vướng vào vòng dây thừng. Người ta bảo nó lặn lâu quá, ngất đi, dây quấn vào chân. Tay phải nó nắm chặt, người ta phải bẻ từng ngón mới mở ra được."
Bà đứng dậy, vào buồng trong. Lúc trở ra, bà cầm một gói khăn mùi soa màu cháo lòng đã ngả vàng. Bà mở khăn ra trên lòng bàn tay.
Một viên cuội trắng. Nhẵn, tròn, cỡ quả trứng gà. Trên một mặt có một vệt xám nhạt như vết móng tay.
Tôi nhìn viên cuội mà lạnh từ gáy xuống. Viên đá anh Sửu ném qua hàng rào cũng có một vệt như thế. Nhưng viên này bà Lụa đã giữ hai mươi mốt năm.
"Hòn cuội trong tay nó đấy. Nó thắng rồi đấy cậu ạ. Nó nắm hòn đá của nó, nó chưa lên. Đứa nào thua cũng phải lên trước."
"Thế hôm ấy có ai đi cùng em nó không bà?"
Bà Lụa lắc đầu.
"Bọn trẻ trong xóm bảo không. Bảo nó đi một mình. Trò ấy không chơi một mình được, nhưng chẳng đứa nào nhận. Người ta hỏi mãi rồi thôi. Người ta bảo ma da hồ đá bắt, năm ấy đến lượt nhà tôi."
Bà lại vào buồng, lần này mang ra một khung ảnh gỗ, kính đã mờ. Ảnh đen trắng, chụp ở bờ hồ đá, phía sau là vách đá trắng và mặt nước sẫm. Một thằng bé đen nhẻm, cởi trần, mặc cái quần đùi kẻ ô rộng ống, tóc húi cua, cười toe, tay giơ cao một hòn cuội. Bên cạnh nó là một thằng bé khác, gầy hơn, cao hơn một chút, đứng co ro, tay vòng trước ngực.
"Thằng Cường đấy. Quần đùi kẻ ô xanh, tôi mua ở chợ Gò Chè, nó mặc suốt hè không chịu thay. Người ta vớt lên nó vẫn mặc cái quần ấy."
Tôi chỉ vào đứa bé gầy đứng cạnh.
"Còn đứa này?"
"Thằng Sửu nhà ông Ruộng ở đầu xóm. Bạn thân nó. Hai đứa đi đâu cũng có đôi. Hôm Cường mất thì thằng Sửu ốm, sốt mê man ở nhà, bố mẹ nó bảo thế. Từ hôm ấy nó không bao giờ đến nhà tôi nữa. Tôi cũng không trách. Trẻ con mất bạn, sợ."
Tôi cúi sát vào tấm ảnh. Ảnh mờ, nhưng vẫn nhìn ra. Thằng bé gầy đứng cạnh Cường có cái cằm nhọn. Ở dưới cằm, bên trái, có một vệt sáng nhỏ cong cong. Một vết sẹo hình lưỡi liềm.
Bà Lụa không biết gì. Bà đang lau mặt kính bằng vạt áo, chậm rãi, như lau mặt con.
"Nhà ông Ruộng chuyển đi từ năm chín bảy. Nghe đâu thằng Sửu lớn lên đi làm ăn xa. Giờ chẳng biết nó ở đâu."
Tôi không trả lời. Tôi nhìn ra ngoài sân. Phía cuối ngõ, ở chỗ con đường đất rẽ lên đồi, có một người đàn ông tóc bạc đứng dưới bóng cây xoan. Anh ta đứng đó từ lúc nào tôi không biết. Thấy tôi nhìn, anh ta quay lưng, đi nhanh lên dốc.
Bát cơm trên ghế đẩu đã nguội. Tôi thấy mặt cơm có một lớp gì trắng mịn rắc lên, như bụi. Bà Lụa không để ý. Tôi đưa tay chạm vào. Bột đá vôi, lạnh như vừa vớt từ dưới nước lên.