Truyện Ma Có Thật
← Bóng trắng sau lưng cô dâu

Chương 3: Lễ gia tiên nhà gái

Khoảng 4 phút đọc·3lượt xem

Chị Mai không chịu giữ cái kẹp nữa. Chị đem lên tiệm, bỏ vào một bao thư, dán kín, nhét dưới đáy ngăn kéo bàn chị Vy. Chị Vy nghe kể thì cười, nói tụi bây chụp ma riết rồi tưởng mình gặp ma. Nhưng tôi để ý chị không mở bao thư ra coi.

Lễ gia tiên định vào sáng thứ Bảy cuối tháng Mười. Nhà Thư ở trong một con hẻm trên đường Lê Văn Sỹ, phía quận Ba. Hẻm vừa đủ một xe hơi lách qua, hai bên nhà ống ba tầng sát nhau, ban công nào cũng treo giàn hoa giấy. Sáng đó đầu hẻm dựng rạp đỏ, cổng hoa kết bằng lá dừa nước và hoa hồng trắng, hai chữ song hỷ dán ở giữa.

Tôi tới từ sáu giờ để chụp cảnh chuẩn bị. Mẹ Thư ra mở cửa. Bà tên Diệu, ngoài bốn mươi lăm, người nhỏ, tóc búi thấp, mặc áo dài tím than. Bà nói giọng Bến Tre đặc như Thư từng kể, chữ "vô" kéo dài, chữ "hông" nhẹ như hơi thở.

"Con ăn gì chưa? Vô đây, cô có xôi gấc nè."

Bà đẩy cho tôi một hộp xôi, đứng nhìn tôi ăn. Trong lúc đó bà hỏi tôi quê đâu, làm nghề này mấy năm, có cực không. Bà hỏi như người ta hỏi con cháu, không như hỏi thợ thuê. Ba Thư là ông Tâm, người Sài Gòn gốc, ít nói, cứ đi tới đi lui chỉnh lại mâm quả trên bàn thờ.

Phòng khách nhà Thư hẹp. Bàn thờ đặt sát tường trong, có tấm hình ông bà nội Thư, bình hoa cúc vàng, hai cây đèn cầy đỏ to bằng cổ tay. Trên tường cạnh đó treo một tấm ảnh gia đình ba người chụp ở tiệm, chắc từ hồi Thư còn học cấp hai. Tôi chụp tấm ảnh treo tường đó một kiểu, thói quen của thợ, chụp mọi thứ có mặt người.

Họ nhà trai tới lúc tám giờ. Sáu cái mâm quả phủ khăn đỏ, đội trai bưng mặc áo dài khăn đóng. Khang đi đầu, áo dài xanh đậm, mặt tái như người thức trắng. Mẹ anh đi bên cạnh, bà ăn mặc sang, đeo chuỗi ngọc, nói chuyện với bà Diệu bằng một giọng lịch sự mà xa.

Tôi chạy khắp phòng tìm góc. Trong phòng chật, người đông, mùi nhang trầm và mùi nước hoa lẫn nhau. Hai cây đèn cầy đỏ cứ chảy sáp ròng ròng dù không có gió.

Tới lúc cô dâu chú rể quỳ lạy trước bàn thờ, tôi lùi ra sát cửa, đứng lên cái ghế đẩu để chụp từ trên xuống. Thư mặc áo dài đỏ thêu phượng, khăn vấn đỏ. Tà áo sau lưng cô trải dài trên tấm thảm hoa. Tôi bấm.

Qua kính ngắm, tôi thấy một cái bóng trắng.

Nó đứng sát sau lưng Thư, chỗ đó lẽ ra là khoảng trống giữa cô và hàng ghế họ hàng. Tôi rời mắt khỏi kính ngắm, nhìn bằng mắt thường. Không có ai. Chỉ có tấm thảm hoa và tà áo đỏ. Tôi nhìn vào kính ngắm lại.

Cô gái áo bà ba trắng quỳ một gối sau lưng Thư. Đầu cúi. Một bàn tay cô đặt lên tà áo đỏ, nhẹ như người ta vuốt nếp áo cho ai.

Tôi bấm thêm hai tấm. Ngón tay tôi lạnh tới mức không cảm thấy nút bấm. Rồi Thư đứng dậy, tà áo kéo theo, cái bóng trong kính ngắm không còn.

Ngay lúc đó bà Diệu bước lên chỉnh lại khăn vấn cho con gái. Bà đưa tay sửa tóc mai, rồi khựng lại. Từ mép khăn vấn, bà rút ra một vật nhỏ.

Cái kẹp bướm. Cánh mẻ.

Nó không nằm trên váy nữa. Nó kẹp vào tóc Thư, ngay sau mang tai, chỗ chị Mai đã búi tóc gọn từ năm giờ sáng.

Tôi đứng trên ghế, cách chừng ba thước, thấy rõ mặt bà Diệu. Mặt bà không hoảng như chị Mai. Mặt bà sụp xuống. Như có ai rút hết xương ra. Bà nhìn cái kẹp trong lòng bàn tay một lúc rất lâu, môi mấp máy. Rồi bà nắm tay lại, bỏ vào túi áo dài, quay đi.

Thư hỏi má ơi gì vậy. Bà nói, có cọng tóc rối, má gỡ rồi. Giọng bà bình thường. Bà đi xuống bếp. Cả buổi sau đó tôi không thấy bà cười.

Chị Mai đứng ở góc phòng nhìn tôi. Tôi biết chị muốn chạy về tiệm mở ngăn kéo bàn chị Vy.

Gần trưa, lễ xong, nhà gái tiễn nhà trai ra đầu hẻm. Tôi xin cả hai họ đứng trước bàn thờ chụp một tấm chung. Hai chục người chen nhau trong phòng khách hẹp, bà Diệu đứng cạnh Thư, bên kia là mẹ Khang. Tôi đếm một, hai, ba, bấm.

Về tiệm, chị Mai xé bao thư. Bao thư trống. Hồ dán còn nguyên.

Tôi mở tấm ảnh chung lên màn hình lớn.

Cô gái đứng ở hàng sau, kẹt giữa hai người bà con nhà gái, mặt mờ như hơi nước trên kính. Tóc cô vẫn xoã, nhưng không còn chấm xanh nào trên tóc. Cái kẹp đã ở trong túi áo bà Diệu. Và lần đầu tiên từ rừng thông Đà Lạt, cô không nhìn Thư.

Cô nhìn bà Diệu.