Chương 5: Cuộc gọi tháng Tư
Khoảng 4 phút đọc·3lượt xem
Tôi không xoá. Tôi chép thẻ nhớ ra hai nơi, máy tiệm và một cái ổ cứng rời tôi mang về phòng trọ. Tôi không biết vì sao mình làm vậy. Có lẽ vì từ rừng thông tới giờ, mỗi lần tôi xoá cô, cô lại tới gần hơn.
Ba ngày sau tiệc, Khang hẹn tôi ra một quán cà phê cóc trên đường Hoàng Văn Thụ, gần sân bay. Anh tới trước, ngồi ở cái bàn nhựa thấp sát gốc me, trước mặt ly cà phê sữa đá đã tan hết đá. Anh mặc sơ mi đi làm, mắt thâm như ba đêm không ngủ. Máy bay hạ cánh rầm rì trên đầu, cứ mười phút một chiếc.
"Thư có hỏi gì em hông?"
Tôi nói Thư có nhắn, hỏi bao giờ có ảnh tiệc. Tôi chưa trả lời. Khang gật, châm điếu thuốc, hút một hơi dài rồi kể. Anh kể chậm, không nhìn tôi, nhìn ra dòng xe.
Hạnh là người yêu của anh ba năm. Hai người quen nhau hồi anh còn học năm cuối, cô làm công nhân một xưởng may ở Tân Bình, tối đi học thêm lớp kế toán ở trung tâm gần trường anh. Cô người Bến Tre. Ba cô mất từ hồi cô chưa biết đi, má cô bỏ đi lấy chồng khác lúc cô hai tuổi, cô ở với bà nội dưới quê tới năm mười tám mới lên Sài Gòn.
"Nó nói nó hổng nhớ mặt má nó. Bà nội nó đốt hết hình, cấm nhắc tới. Ai hỏi thì bà nói má nó chết rồi."
Khang kể tiếp, giọng đều như đọc sổ.
Mẹ Khang không chịu. Bà nói thẳng, con nhỏ không cha không mẹ, làm công nhân, nhà ở quê mùa, cưới về thì bà biết ăn nói sao với họ hàng. Khang cãi được một năm.
Năm thứ hai anh im. Năm thứ ba, tháng Mười năm ngoái, anh nói chia tay. Hạnh không khóc trước mặt anh. Cô chỉ hỏi anh có thương cô không. Anh không trả lời. Cô gật đầu, đứng dậy về.
Bốn tháng sau, bà con bên nội giới thiệu Thư. Con nhà đàng hoàng, có học, ba mẹ có nhà trong hẻm quận Ba. Mẹ Khang ưng ngay. Đám hỏi làm gấp vào tháng Ba.
"Đầu tháng Tư Hạnh gọi cho anh. Số lạ, anh bắt máy."
Khang dụi điếu thuốc vào cái gạt tàn bằng lon bia cắt đôi. Tay anh run nên dụi hai lần mới tắt.
"Nó nói anh Khang, em coi được hình đám hỏi rồi. Em hông phá đám cưới của anh đâu. Em chỉ muốn nhìn cô ấy một lần. Anh cho em biết nhà cô ấy ở đâu, hoặc tiệm nào chụp hình, em tự hỏi."
Anh im một lúc. Một chiếc máy bay hạ thấp qua đầu, tiếng động cơ dội xuống mặt bàn nhựa, ly cà phê rung rung.
"Anh tưởng nó ghen. Anh tưởng nó tính tới làm loạn. Anh la nó."
"Anh nói mày đừng có điên, mày mà đụng tới Thư thì đừng trách tao. Nó im một hồi, rồi nói, anh hổng hiểu đâu, em hông phải vậy. Nó nói em có chuyện của cô ấy phải nói, hông phải chuyện của mình. Anh cúp máy. Anh chặn số."
Hai tuần sau, một người bạn cùng xưởng may của Hạnh nhắn tin cho anh. Hạnh chết rồi. Tai nạn trên quốc lộ Một, đoạn qua Bến Lức, lúc chín giờ tối. Cô chạy xe máy từ dưới quê lên, một chiếc xe đầu kéo lấn làn. Chết tại chỗ.
"Nó đi lên Sài Gòn làm gì giờ đó, anh hổng biết. Anh hổng dám hỏi. Anh hổng đi đám tang. Má anh nói đi chi, người ta chửi vô mặt cho."
Khang nhìn tôi lần đầu từ lúc ngồi xuống. Mắt anh đỏ hoe.
"Em biết hông, anh đã nghĩ nó tới phá đám cưới. Ở Đà Lạt, ở bãi lau, ở nhà Thư. Anh đã nghĩ vậy. Anh sợ nó. Trời ơi, anh sợ nó."
Tôi hỏi anh cái kẹp tóc má cô gài cho cô trông ra sao. Khang nhìn tôi, không hiểu vì sao tôi hỏi. Anh nhíu mày nhớ. Anh nói Hạnh có một cái kẹp con bướm màu xanh, cũ lắm, một cánh bị mẻ vì hồi nhỏ cô làm rớt xuống nền gạch. Cô đeo từ hồi chưa nhớ gì, hỏi ai cho thì cô nói hổng biết, bà nội cũng hổng nói.
Tôi đặt ly cà phê xuống. Khang không để ý.
Tôi không kể cho anh nghe về cái kẹp ở rừng thông. Tôi không kể bà Diệu đã rút nó ra khỏi tóc Thư rồi bỏ vào túi. Tôi chỉ hỏi một câu nữa.
"Hồi đó chị Hạnh có hỏi tiệm nào chụp đám hỏi không anh?"
"Có. Nó có thấy tên tiệm trên mấy tấm hình đăng trên mạng. Tiệm em đó."
Tối đó tôi quay lại tiệm lúc gần mười giờ. Chị Vy đã về. Tôi mở máy tính, vào trang của tiệm. Tháng Tư năm đó chị Vy sinh em bé, nằm viện một tuần, rồi ở cữ. Cả tháng ấy tôi là người trả lời tin nhắn khách.
Tôi gõ tên Hạnh vào ô tìm kiếm của hộp thư trang.
Một cuộc trò chuyện hiện ra. Ảnh đại diện là một bông hoa sen. Tin nhắn cuối cùng ở dưới cùng, ngày mười một tháng Tư. Người trả lời tin nhắn đó là tôi.