Chương 7: Ngôi nhà ven Cổ Chiên
Khoảng 5 phút đọc·3lượt xem
Thứ Bảy đó tôi chạy xe máy xuống Bến Tre. Qua cầu Rạch Miễu lúc chín giờ sáng, gió sông Tiền thổi tạt ngang, xe chao như chiếc lá. Tôi bỏ cái kẹp bướm vào một túi ni lông nhỏ, cột chặt, nhét trong túi áo ngực. Suốt đường nó lạnh như một viên đá không chịu tan.
Nhà bà nội Hạnh ở cuối một con đường đất dọc mé sông Cổ Chiên, phải hỏi ba lần mới tới. Nhà ba gian vách ván, mái tôn đã rỉ, trước sân có giàn mướp và cái lu da bò hứng nước mưa. Sau nhà là vườn dừa, giữa vườn có hai ngôi mộ xây, một cũ một mới. Ngôi mới còn trắng vôi.
Bà cụ ngồi trên bộ ván giữa nhà, đang têm trầu. Bà nhỏ thó, tóc bạc búi củ hành, ngó tôi qua cặp kính lão.
"Ai đó? Kiếm ai?"
Tôi nói con ở Sài Gòn xuống, con biết chị Hạnh. Bà ngừng tay. Bà ngó tôi lâu, rồi chỉ cái ghế đẩu, biểu ngồi. Bà rót cho tôi chén nước chè xanh, nước đã nguội.
Trên bàn thờ có tấm hình Hạnh lồng khung kính. Hình chụp ở một tiệm ảnh thẻ, nền xanh, cô mặc áo sơ mi trắng, tóc cột gọn, cười mím môi. Tôi đã thấy khuôn mặt đó mờ trong sương, lẫn trong lau, dưới ánh đèn xanh cuối sảnh. Giờ tôi thấy nó rõ. Mặt tròn, mắt một mí, cằm nhỏ. Giống Thư như hai chị em.
Tôi lấy túi ni lông ra, mở, đặt cái kẹp lên mặt ván.
Bà cụ nhìn nó. Bà không đụng vô. Bà lấy tay che miệng, cái miệng móm còn dính quết trầu đỏ.
"Trời đất ơi. Cái kẹp của con Hạnh. Ở đâu mà con có? Bữa người ta trả đồ nó, cái giỏ, cái nón bảo hiểm bể, cái áo dính máu, mà hông có cái kẹp. Tui kiếm dọc đường Bến Lức mấy bữa hông ra."
Tôi kể hết, từ rừng thông Đà Lạt tới cái kẹp trên tóc cô dâu. Kể tin nhắn tháng Tư và câu trả lời của tôi. Tới đó giọng tôi lạc đi. Bà cụ nghe không ngắt lời. Nghe xong bà ngồi im, nhai trầu, nhìn ra giàn mướp.
Rồi bà đứng dậy, đi vô buồng trong. Bà ra với một cái hộp bánh bằng thiếc đã rỉ sét, nắp in hình hoa mai. Bà mở ra. Trong hộp có mấy tờ giấy khai sinh, một xấp thư cũ, và nửa tấm hình bị cháy sém.
Tôi nhận ra nửa tấm hình. Cô gái đứng trước hàng dừa nước, mặt cháy mất nửa trên, tóc có chấm xanh. Tấm Hạnh đã chụp lại gửi cho tiệm.
"Đây là con Diệu. Má con Hạnh."
Bà kể bằng cái giọng Bến Tre khàn đục của người già, câu ngắn, có chỗ ngưng lâu.
Con trai bà tên Phúc, chạy ghe chở dừa trên sông Cổ Chiên. Năm tám mươi chín nó cưới con Diệu, con nhà nghèo ở ấp trên, mười bảy tuổi. Đám cưới nghèo, thằng Phúc ra chợ Mỏ Cày mua cho vợ một cặp kẹp tóc con bướm làm quà cưới, hai cái giống y nhau. Năm chín mươi con Hạnh ra đời. Năm sau thằng Phúc chở dừa gặp giông giữa sông, ghe lật, ba ngày mới vớt được.
"Tui hận nó. Tui nói nó sát chồng. Tui nói nó lấy thằng Phúc có hai năm mà thằng Phúc chết. Tui hông cho nó bồng con Hạnh đi."
Con Diệu quỳ ở cửa ngõ năn nỉ suốt một buổi chiều. Bà không mở cổng. Tới tối, nó gỡ một cái kẹp bướm trên đầu nó, đưa qua song cổng, gài lên tóc con Hạnh đang được bà bồng trên tay. Rồi nó đi lên Sài Gòn, năm đó nó mười chín tuổi.
Bà ngừng lâu ở chỗ này. Tay bà mân mê cái nắp hộp thiếc.
"Hai năm sau nó về. Nó có chồng mới trên đó rồi, bụng mang bầu, nó về xin coi mặt con. Tui nói con Hạnh chết rồi. Sốt xuất huyết. Tui chỉ đại cái mả đất ngoài vườn, mả con chó."
"Nó lạy cái mả đó, khóc tới tối. Rồi nó đi luôn. Hai mươi mấy năm hông về nữa."
Ngoài sông có tiếng máy ghe chạy ngang, tiếng nước vỗ vào bờ đất.
Bà kể tiếp. Hồi tháng Ba, đứa bạn cùng xưởng gửi cho Hạnh coi bộ hình đám hỏi của người yêu cũ, cái bộ hình tiệm tôi đăng. Hạnh coi tới tấm có người đàn bà mặc áo dài tím đứng kế cô dâu, thì dừng. Người đàn bà búi tóc thấp. Trên búi tóc là một cái kẹp con bướm màu xanh.
Hạnh chạy về quê. Hạnh đặt nửa tấm hình cháy sém bên cạnh cái điện thoại, hỏi bà. Bà chối được một bữa. Qua bữa sau thì bà nói thật.
"Nó hông giận tui. Con nhỏ đó hiền như cục đất. Nó nói nội ơi, con hông phá gì hết, người đó là em con. Con chỉ muốn lên coi mặt má một lần, coi mặt em con một lần, trả cái kẹp cho má, cho má biết con còn sống. Rồi con về."
Bữa mười tám tháng Tư, Hạnh ở nhà bà tới chiều. Bà may cho nó một bộ bà ba trắng bằng vải phin mới mua, vì nó nói đi gặp má thì phải mặc đồ mới. Nó coi điện thoại một hồi, mặt buồn. Nó nói tiệm chụp hình hông cho số, mai con tới tận tiệm năn nỉ. Rồi nó mặc bộ bà ba trắng, gài cái kẹp lên tóc, chạy xe lên Sài Gòn cho kịp sáng mai đi làm.
Tới Bến Lức thì nó nằm lại đó.
Tôi không nhớ mình ngồi bao lâu. Bà cụ đậy nắp hộp thiếc, đẩy cái kẹp bướm về phía tôi.
"Con đem lên trả cho con Diệu giùm tui. Con Hạnh nó gởi con rồi đó."
Chiều đó tôi ra thắp nhang ở ngôi mộ trắng vôi giữa vườn dừa. Cạnh nó là mộ ông Phúc. Xa hơn chút, sát bờ mương, có một cái mả đất nhỏ mọc đầy cỏ may.
Lúc tôi dắt xe ra cổng, điện thoại trong túi rung. Một số lạ. Tôi bắt máy. Đầu dây bên kia là giọng Bến Tre của một người đàn bà, nhỏ, run.
"Con là thằng Lâm chụp hình phải hông. Con đang ở dưới Mỏ Cày phải hông con."