Chương 3: Thau nước giữa dòng
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Ôn không nói chi về bàn tay trên vách. Sáng ra ôn đứng nhìn chỗ đất sậm màu đã khô thành một mảng loang, rồi lấy bay trét đè lên một lớp bùn mới. Ôn trét kỹ, miết đi miết lại, như trét một vết nứt.
"Đất mới trét thì hút hơi sương. Rứa thôi."
Tôi không cãi. Tôi biết ôn không tin câu ôn vừa nói. Ôn chỉ nói cho cái nhà nghe.
* * *
Lệ của ôn là nước trong thau phải múc ở đúng chỗ người chết. Chết giếng thì múc giếng, chết ao thì múc ao, chết trên giường thì lấy nước giếng nhà người đó. Việc này xưa nay tôi làm một mình, xách cái thau đồng đi, múc xong đậy lá chuối lại đem về.
Lần ni chú Lợi đòi chở tôi đi. Chú chống đò qua tận bờ tre nhà ôn từ sáng sớm, nói nước còn xiết, thằng nhỏ đi một mình không được.
Ôn đứng trên bờ nhìn chú. Rồi ôn gật đầu, dặn tôi cầm theo cái nón.
Đò chạy ngược lên phía Cồn Đình. Trời hửng nắng sau gần hai tháng mưa dầm, mặt sông bốc hơi mờ mờ. Hai bên bờ, tre bị nước quật gãy ngả rạp xuống nước, mắc đầy rác trên ngọn. Một con trâu chết trương phình mắc trong bụi, ruồi đen kịt, mùi xộc thẳng vô mũi. Chú Lợi không ngó.
Tôi ngồi ở mũi, quay lưng về phía chú, cái thau đồng kẹp giữa hai đầu gối. Từ chỗ tôi ngồi, nhìn xuống được mạn trái.
Khúc mạn có những vệt cào đã không còn. Gỗ chỗ đó đã bị bào phẳng, trét một lớp sơn xanh mới, xanh hơn hẳn chỗ còn lại, mùi sơn dầu còn hăng. Một khúc dài chừng một sải tay, sáng loáng như miếng vá trên áo cũ.
* * *
Đò qua khỏi doi Cồn Đình. Phía bên phải, giữa một bãi đất trống, là nhà thờ họ Lê, tường vàng, mái ngói âm dương. Cạnh đó là cây gạo già, thân to hai người ôm, cành trơ trụi vì gió lụt đã tuốt hết lá. Trên cành thấp còn mắc một cái chiếu rách.
Tôi chờ chú tắt máy. Chú không tắt. Đò chạy thẳng qua cây gạo, qua nhà thờ họ, ra tới chỗ nhánh lạch đổ vô sông cái. Nước ở đó xoáy thành từng vòng, màu nâu đục, mặt nước lăn tăn những bọt vàng.
Chú Lợi tắt máy. Đò trôi chậm lại, xoay ngang.
"Chỗ ni."
Tôi nói mấy người trong xóm nói con Mận rớt gần cây gạo. Chú nhìn tôi. Ánh mắt chú không giận, chỉ mệt và rất xa.
"Người ta nói chi kệ người ta. Tau là cha hắn. Tau biết chỗ."
Tôi cúi người ra mạn phải, nhúng thau xuống. Nước mặt sông ấm vì nắng. Nhưng thau vừa chìm xuống chừng một gang tay là cái lạnh chạy ngược lên cổ tay tôi, lạnh như nước giếng khơi giữa đêm tháng Chạp. Tôi suýt buông tay.
Một bàn tay túm lấy lưng áo tôi từ phía sau. Chú Lợi. Chú nắm rất chặt, các khớp ngón tay ép vào xương sống tôi.
"Coi chừng. Chỗ ni sâu lắm."
Tôi nhấc thau lên, đặt lên sàn đò. Chú vẫn chưa buông áo tôi. Mãi tới khi tôi đậy lá chuối lên miệng thau chú mới buông, rồi rụt tay về rất nhanh.
Lúc đó tôi mới thấy mu bàn tay trái của chú. Bốn vệt sẹo nhỏ chạy song song, từ cổ tay xuống tới khớp ngón, đã lên da non màu hồng. Như vết móng của con mèo. Nhưng con mèo nào cào mà bốn vệt đều nhau, sâu rứa.
Chú thấy tôi nhìn. Chú kéo ống tay áo xuống.
"Đinh tôn. Đêm nớ vớt mái tôn nhà ông Bốn."
* * *
Trên đường về, chú Lợi nói nhiều hơn lúc đi. Chú hỏi ôn tôi làm nghề ni bao lâu. Hỏi hồn về có thiệt nói được không. Hỏi người ta nghe xong có hết thương nhớ không. Tôi trả lời qua loa. Chú không nghe tôi trả lời. Chú chỉ cần hỏi.
Gần tới bờ tre, chú nói, giọng thấp xuống:
"Mai mạ hắn mà hỏi chi khác, em biểu ôn đừng trả lời. Chỉ nói câu tui dặn thôi. Tui trả thêm."
Tôi hỏi o Diệu muốn hỏi chi. Chú không đáp.
Đò ghé bến Cồn Đình trước để chú lấy can dầu. Trên cầu ván có một người đàn bà đang đứng. Gầy tới mức cái áo bà ba nâu treo trên người như treo trên cây sào. Tóc búi lỏng, nhiều sợi bạc dù mặt còn trẻ. O Diệu.
O không nhìn chồng. O nhìn cái thau đồng dưới chân tôi.
"Con mang nước về cho o hở con?"
Tôi không biết trả lời răng. O cúi xuống, vén lá chuối, nhúng mấy đầu ngón tay vô. Rồi o rút tay ra, nhìn mấy ngón tay ướt, như nhìn một cái chi đó lạ lắm.
"Lạnh rứa."
O nói nhỏ, không phải với tôi. Chú Lợi đi ngang qua sau lưng o, xách can dầu, không dừng.
* * *
Tối đó ôn đặt cái thau giữa nhà, ngay dưới khung mái mới lợp xong. Ôn bảo phải thử trước, nước sông lụt nhiều phù sa, nón dễ bị dính. Ôn thả cái nón lá mới lên mặt nước, cắm cây nến, buộc cước. Tôi ra sau tấm liếp, cầm đầu cước, kéo nhẹ như mọi lần.
Cái nón không xoay. Nó nhích một chút, rồi đứng lại, như bị cái gì dưới nước níu.
Tôi kéo mạnh hơn. Sợi cước căng thẳng, rung lên như dây đàn. Cái nón vẫn đứng.
Ôn bảo tôi buông ra. Tôi buông. Sợi cước chùng xuống trên chiếu.
Ngọn nến trong lòng nón ngả rạp sang một bên, như có gió lùa ngang mặt nước, dù cửa đã cài và gió ngoài sông đêm đó lặng. Mùi bùn non bốc lên từ thau, đặc và tanh, lẫn với một mùi khác, mùi dầu máy.
Rồi cái nón tự xoay. Chậm, ngược chiều tôi vẫn kéo. Nó xoay nửa vòng, dừng lại, vành nón chỗ buộc cước quay thẳng về phía cửa, về phía bên kia sông, phía Cồn Đình.