Chương 6: Sổ lương năm chín bốn
Khoảng 5 phút đọc·8lượt xem
Tôi lau mặt bàn cân bằng cái khăn ướt. Lau hai lần. Dấu chân mất, mà chỗ đó lạnh tay tới mức tôi phải chà hai bàn tay vô nhau một hồi mới hết tê.
Hai ngày sau con gái ông chủ tiệm vàng gọi điện, nói gia đình đổi ý. Không nói lý do. Tôi cũng không hỏi.
* * *
Tôi đã ký là không tìm hiểu. Tôi nhắc mình câu đó nhiều lần trong buổi trưa hôm ấy, lúc ngồi một mình trong tiệm, lúc mưa lại kéo tới, lúc tôi đứng dậy đi lên gác lửng. Tôi nhắc mình câu đó khi cạy cái ổ khoá đồng của tủ gỗ bằng con dao rọc giấy. Ổ khoá cũ, rỉ, bung ra sau ba lần nạy.
Trong tủ là sổ sách. Mấy chục cuốn sổ bìa cứng màu nâu, gáy dán băng keo vải, xếp theo năm. Chữ ông Sáu viết bằng bút bi xanh, nghiêng, nét đậm, chữ số bảy có gạch ngang kiểu người Tàu. Sổ bán sỉ, sổ ghi nợ, sổ nhập gạo từ ghe. Tôi lật tìm năm chín bốn.
Cuốn sổ lương năm đó mỏng, mỗi trang một tháng, mỗi dòng một ngày. Ba người làm công, tên viết tắt: Hai, Lục, Tám. Cột tiền, cột gạo. Dòng của Tám ngày nào cũng giống ngày nào: mười lăm ngàn, một ký. Ngày nào cũng có, không nghỉ chủ nhật. Tháng Năm, tháng Sáu, rồi tháng Bảy.
Ngày mười bốn tháng Bảy, dòng của Tám có tiền, có gạo, rồi bị gạch ngang bằng một nét mực đỏ. Ngày mười lăm không có. Tháng Tám, hai người còn lại vẫn lãnh lương đều.
Nhưng ở trang cuối cuốn sổ, sau hết các tháng, ông Sáu kẻ thêm một cột riêng, không tiêu đề. Cột đó bắt đầu từ ngày mười lăm tháng Bảy. Mỗi dòng chỉ có một chữ và một con số.
Tám. Một ký.
Tôi lật sang cuốn năm chín lăm. Trang cuối cũng có cột đó. Năm chín sáu. Năm hai ngàn. Năm hai ngàn mười.
Cuốn nào cũng có, mỗi ngày một dòng, chữ ông Sáu mỗi năm một run hơn. Cuốn cuối cùng là năm hai ngàn mười bảy. Dòng chót ghi ngày hai mươi hai tháng Ba, nét chữ xiêu như viết bằng tay trái.
Tám. Một ký. Đủ.
Chữ "đủ" viết khác hẳn, to, ấn mạnh tới thủng giấy.
* * *
Kẹp trong cuốn sổ năm chín bốn còn có một cột khác, ghi trên một tờ giấy học trò gấp tư. Tờ đó ghi tiền, mỗi tháng một dòng, bắt đầu từ tháng Tám năm chín bốn. Không có tên người nhận, chỉ có hai chữ viết tắt: P. Đ.
Ba trăm ngàn. Rồi năm trăm. Rồi tới năm hai ngàn thì một triệu. Tờ giấy được dán nối thêm mấy lần, tờ sau giấy khác tờ trước, kéo dài tới năm hai ngàn mười bảy.
Tôi ngồi trên gác lửng, tờ giấy trên đùi, và tôi nhớ ra một chuyện tôi đã quên từ lâu, vì nó quá bình thường.
Hồi nhỏ, đầu tháng nào cũng có một ông chạy xe ôm tới nhà tôi dưới Phong Điền, đưa cho má một cái phong bì giấy xi măng. Má nói tiền dì Út bên ngoại trên Sài Gòn gửi về. Tôi chưa bao giờ gặp dì Út. Má nói dì bận, dì nghèo, dì không về được.
Phong bì đó đóng tiền học cho tôi suốt mười hai năm, đóng tiền thuê nhà khi mẹ con tôi dọn lên Bình Thủy. Hai năm trước phong bì không tới nữa. Má nói dì Út già rồi, chắc không còn làm ra tiền. Má không buồn. Má nói vậy là đủ rồi.
Tôi nói với mình, P. Đ. có thể là bất kỳ ai. Cần Thơ có cả trăm cái tên viết tắt là P. Đ. Tôi nói với mình điều đó hai lần, rồi tôi gấp tờ giấy lại, bỏ túi áo.
* * *
Dưới đáy tủ có một tấm ảnh. Ảnh đen trắng cỡ bàn tay, giấy bóng, chụp trước cửa tiệm Hiệp Thành, tấm bảng tôn còn đủ nét. Mặt sau ghi bằng bút bi: Tết 93. Trong ảnh có ông Sáu Hiệp mập mạp đứng giữa, mặc áo sơ mi, bà Sáu bới tóc đứng bên trái. Một thằng nhỏ chừng mười tuổi đứng phía trước, mặt bướng, là anh Thạnh hồi nhỏ, tôi nhận ra cái trán. Phía bên phải là ba người làm công, áo ba lỗ, quần xà lỏn.
Người đứng ngoài cùng ốm nhom, quấn khăn rằn ở cổ.
Mặt người đó không còn. Không phải bị cắt. Tấm ảnh bị ẩm, mốc ăn một đốm tròn màu nâu ngay chỗ khuôn mặt, chỉ chỗ đó. Còn lại là cái cổ gầy, cái khăn, hai bàn tay to quá khổ so với người, buông xuôi bên hông.
Tôi nhìn hai bàn tay đó rất lâu. Ngón cái bàn tay trái cong vẹo, như đã gãy một lần mà không ai nắn lại.
Tôi không nhớ mặt ba. Nhưng tôi nhớ có một lần, hồi tôi còn nhỏ lắm, ba ngồi bóc vỏ đậu phộng cho tôi ăn bằng một ngón tay cái cong vẹo như vậy.
* * *
Tôi xuống gác lúc trời chạng vạng. Mưa đã tạnh, trong tiệm tối om. Tôi lần tay tìm công tắc.
Đèn chưa sáng, tôi đã nghe tiếng cây kim cân lách cách trong mặt đồng hồ, tiếng kim bị đẩy lên rồi rớt xuống, đẩy lên rồi rớt xuống, như có người đang nhún trên mặt cân để thử.
Đèn huỳnh quang chớp, rồi sáng.
Kim cân chỉ một ký. Sáng nay tôi đã đong. Lần đầu tiên từ khi tôi đong, nó đòi lần thứ hai trong một ngày.
Và trên nền gạch, từ chân cân tới chân cầu thang gác lửng, có một hàng gạo rải thẳng, từng hạt cách đều nhau, như dấu một người vừa đi theo tôi lên, rồi đi theo tôi xuống.