Chương 9: Mả lụt sau đồi cát
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Ông Lượm thức dậy trong ghe lúc mặt trời đã lên cao. Ông không nhớ gì hết. Hỏi đêm qua ông hò câu chi, ông nói không biết, ông hò hoài, hò cho đỡ buồn. Hỏi ông ngủ mơ thấy chi, ông ngó tôi trân trân rồi bỏ đi gỡ lưới.
Tôi ngồi ở bậc đá, nghĩ suốt buổi sáng. Tôi nghĩ theo cái cách duy nhất mà tôi biết nghĩ lúc đó.
Thằng Tí chết trong lụt năm Thìn. Cái xác nó trôi ra biển, không ai chôn, không ai cúng. Cái vong nó ở lại trong căn nhà, bị cột vào cây cột, mấy chục năm chờ mạ. Ông Lượm là một người khờ ở nhờ, đêm đêm hò câu hò của mạ nó, nên nó bám theo ông, theo tiếng hò, tưởng mạ về. Cái đầu óc lơ mơ của ông, có khi cũng vì bị vong bám lâu năm.
Tôi nói với anh Khải như vậy. Anh nghe, gật đầu, mà không nói gì thêm. Anh chỉ hỏi lại một câu:
"Ông Lượm năm ni bao nhiêu tuổi, em có tính chưa?"
Tôi nói chắc ngoài bảy mươi. Anh Khải nhìn ra phía ghe ông Lượm, không nói nữa.
Chiều đó, cháu nội mệ Gái dắt tôi với anh Vĩnh ra mả lụt. Anh Khải không đi. Anh nói anh còn phải trét nốt mấy chỗ ngói quanh cây cột cái. Lúc tôi ra tới cổng, anh gọi với theo:
"Em đi với anh nớ. Hai người còn chi nói thì nói cho hết."
Mả lụt nằm sau một đồi cát trắng, cách xóm chừng một cây số, giữa một rừng phi lao thưa. Mười bảy nấm mồ đắp cát, không có bia, chỉ có mấy viên gạch thẻ đặt đầu mộ để đánh dấu. Xương rồng mọc chen giữa các nấm. Gió từ biển thổi qua rừng phi lao kêu u u như ai thổi vào miệng chai.
Đứa cháu mệ Gái chỉ một nấm mồ nằm cuối hàng, lớn hơn mấy nấm khác. Nó nói mệ dặn, đây là mả anh Đò với o Hò, hai người chôn chung. Rồi nó để chúng tôi ở lại, đi về.
Anh Vĩnh quỳ xuống. Tôi quỳ xuống cạnh anh. Hai người ngồi trước nấm mồ của chính mình.
Tôi không biết người khác nghe câu đó có thấy lạ không. Lúc đó tôi không thấy lạ. Tôi chỉ thấy buồn, một cái buồn rộng như mặt phá. Dưới lớp cát kia có hai bộ xương ôm nhau, gỡ không ra. Một bộ xương có ngón trỏ cụt.
Anh Vĩnh đốt nhang, cắm ba cây. Tôi lấy trong túi ra cái chong chóng giấy đỏ tôi làm hồi sáng, cắm xuống cát. Gió biển thổi, nó quay.
Anh Vĩnh ngồi nhìn cái chong chóng một hồi lâu. Rồi anh nói, giọng rất bình thường, như người kể chuyện hôm qua:
"Tui nhớ ra rồi. Đêm nớ."
Anh kể. Đêm nớ anh chở chuyến cuối, đò đầy người, gió quật, sóng phá dựng lên cao bằng mái nhà. Đò lật cách bến chừng hai trăm thước. Anh bơi, đẩy được hai đứa nhỏ lên một bụi tre trôi. Rồi anh thấy đèn. Một cái đèn dầu chập chờn trên mặt nước, ai đó đang chèo cái thúng chai ra từ phía căn nhà. Ai đó đang gọi tên anh.
"Chị ra tìm tui," anh nói. "Chị bỏ nhà mà ra. Tui nắm được tay chị. Tới đó thì tui không nhớ nữa."
Tôi không khóc được. Tôi nhìn bàn tay anh, cái ngón trỏ cụt, và tôi biết bàn tay đó đã nắm tay tôi lần cuối dưới nước đục, mấy chục năm trước khi tôi được sinh ra.
"Kiếp trước," anh Vĩnh nói, "mình bỏ nhà bỏ cửa mà đi theo nhau. Bỏ cha bỏ mạ. Tới khi chết, mình cũng chọn nhau. Mình bỏ luôn thằng nhỏ."
Gió biển thổi mạnh. Cây nhang cháy nhanh, tàn rơi trên cát.
Anh nói tiếp, không nhìn tôi:
"Tui thương chị. Tui nói thiệt. Mà không phải tui thương. Cái người ở trong tui thương. Hắn thương chị cả đời hắn, chết rồi còn thương."
Tôi nói tôi biết. Tôi nói tôi cũng rứa. Cái người ở trong tôi, đêm nào cũng đứng ở bếp chờ hắn về.
"Mà kiếp ni tui có anh Khải," tôi nói. "Mười ba năm anh Khải đi tìm cái nhà ni cho tui. Anh có chị Diệu. Có con Thảo."
Anh Vĩnh gật đầu. Anh đưa bàn tay phải ra, để ngửa trên cát, giữa hai đứa. Tôi đặt tay tôi lên. Một lần thôi. Tay anh ấm, chai sần, cái ngón cụt cấn vào lòng bàn tay tôi. Chừng ba hơi thở. Rồi hai đứa rút tay về.
"Kiếp trước mình chọn nhau rồi," anh nói. "Kiếp ni thì chọn thằng nhỏ."
Đó là lần duy nhất trong đời tôi nắm tay anh Vĩnh.
Hai người đắp lại nấm mồ, đặt thêm mấy viên gạch thẻ. Tôi khấn cho thằng Tí. Tôi khấn con ơi, mạ với bọ ở đây, con về với mạ, đừng ở trong cái nhà lạnh nớ nữa.
Trên đường về, điện thoại anh Vĩnh reo. Chị Diệu gọi từ Gio Linh. Con Thảo sốt cao, co giật, đã đưa lên trạm xá huyện. Anh Vĩnh đứng giữa đồi cát nghe máy, mặt tái đi. Anh nói tui về liền, tui về liền đây em.
Anh chạy xe về Quảng Trị ngay trong chiều đó. Không kịp chào ai. Tôi đứng ở đầu đê nhìn theo cái xe máy mượn của anh, nhỏ dần trên con đê giữa hai đầm tôm.
Đêm đó tôi tưởng sẽ yên. Tôi đã khấn, đã đắp mộ, đã gọi con về. Tôi ngủ ở nhà mệ Gái.
Giấc mơ tới, như mười ba năm nay. Căn nhà, khói trầm, nước ngang bậc thứ hai. Người đàn ông có mặt anh Vĩnh vẫn đứng ở ngạch cửa. Nhưng anh ta không gọi tôi, không hỏi Tí mô rồi. Anh ta đưa bàn tay cụt chỉ ra phía bến, nơi chiếc ghe nan của ông Lượm đang cột vào cái lỗ cắm sào, và nói, giọng gấp gáp:
"Không phải dưới mả. Mạ hắn ơi, thằng Tí không nằm dưới nớ."
Tôi tỉnh dậy, đưa tay lên tóc. Không có bùn. Lần này là cát. Cát trắng của đồi mả lụt, mịn, khô, rơi lả tả xuống chiếu như ai vừa vốc lên rắc.
Sáng ra tôi về căn nhà rường. Chưa tới bến, tôi đã nghe tiếng anh Khải gọi trên mái. Anh không gọi lớn bao giờ. Lần này anh gọi lớn.
"Thoa! Em lên đây. Lên coi cái ni."