☾ Truyện Ma Có Thật
← Căn nhà chung một giấc mơ

Chương 3: Mười ba năm mất ngủ

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Tháng Giêng năm 2000 tôi sinh thằng Tuấn. Bốn năm sau sinh con Ngân. Hai đứa nhỏ lớn lên trong căn nhà cột lim bên sông Hương, đứa nào cũng khỏe, cũng lì. Anh Khải lên thợ cả, nhận dựng lại nhà rường cho mấy nhà vườn, có năm đi làm tận Quảng Nam. Nhà mình lợp lại mái ngói, xây thêm cái bếp, mua được chiếc Cub cũ.

Người ngoài nhìn vô thì thấy một nhà yên ổn. Tôi cũng muốn nghĩ vậy.

Giấc mơ không bỏ tôi đêm nào. Mười ba năm, tôi đếm được những đêm không mơ trên đầu ngón tay, toàn là những đêm tôi thức trắng vì con ốm. Hễ chợp mắt là căn nhà rường hiện ra, khói trầm, cây bàng có nhánh gãy, mặt nước màu chì ngang bậc đá thứ hai.

Nó không đứng yên hẳn. Nó đổi chậm, chậm như cái bóng nắng trên vách. Năm 2003 tôi để ý trên đầu mình trong mơ có quấn một cái khăn đỏ, góc khăn thêu một nhành lá bằng chỉ vàng. Năm 2006 tôi thấy được bàn tay người đàn ông ở cửa: ngón trỏ bên phải cụt mất một đốt. Năm 2008, lần đầu tiên, anh ta bước được một bước qua ngạch cửa, rồi đứng lại, như có ai giữ.

Mặt anh ta thì vẫn tối. Mười ba năm tôi chưa thấy mặt.

Còn đứa nhỏ, nó chạy quanh cột đúng một chiều, ngược chiều kim đồng hồ, chưa lần nào chạy chiều ngược lại. Thỉnh thoảng nó dừng, ngó ra phía cây bàng, rồi chạy tiếp.

Tôi gầy rộc. Tóc rụng từng nắm. Ban ngày đang thái rau mà mắt díp lại, có lần cắt vô tay sâu tới xương. Bùn trên tóc thì thưa dần, năm có năm không. Mùi trầm thì không bao giờ mất. Con Ngân hồi bốn tuổi ôm cổ tôi, hít hít rồi nói: mạ thơm mùi chùa.

Anh Khải chở tôi đi khắp nơi. Đi bà thầy ở Phong Điền, bà bắt mạch cổ tay tôi, nhắm mắt một hồi rồi nói có vía người khác đè. Bà đốt cho một lá bùa, bắt tôi uống nước tro. Không ăn thua. Đi một ông thầy ở Quảng Lợi, ông nói nhà có mả động, bắt dời bàn thờ. Mạ chồng tôi không cho dời.

Đi chùa thì có một thầy già trên núi Ngự Bình nói một câu khác. Thầy ngồi nghe tôi kể hết, không chen một lời, rồi rót cho tôi chén nước chè.

"Mơ chi mà mơ hoài một chỗ, là chỗ nớ có cái chi con còn để quên. Nợ duyên chưa trả thì nó còn gọi. Sợ không được đâu, mà trốn cũng không được."

Tôi hỏi thầy, nợ chi. Thầy lắc đầu, nói thầy không biết, chỉ người mắc nợ mới biết.

Năm 2009, mạ chồng tôi mất. Bà nằm liệt ba tháng, tôi hầu từng muỗng cháo. Mấy hôm cuối bà tỉnh táo lạ. Một buổi tối mưa, bà kêu tôi lại gần, nắm tay tôi bằng bàn tay chỉ còn da bọc xương.

"Con Thoa. Câu hò của con. Mạ nói dối con."

Tôi cúi sát xuống. Hơi thở bà yếu, có mùi thuốc bắc.

"Mạ nghe rồi. Một lần. Hồi con gái, mạ theo ghe ông ngoại chở gạo xuống phá bán. Chiều đó ghe đậu ở một cái bến dưới Quảng Điền, có cây bàng to. Có một o trẻ ngồi trên bậc đá, ru con, hò đúng câu nớ. Hò hay lắm. Mạ nhớ tới giờ."

Tôi hỏi bến nào, làng nào. Bà nói không nhớ. Bà nói năm đó là năm trước lụt Thìn. Lụt xong mạ theo ghe xuống lại, cái bến nớ không còn ai.

"Mạ không nói con, vì mạ sợ," bà nói. "Mạ sợ cái o nớ theo con về."

Bà mất ba ngày sau. Đám tang mạ, tôi khóc nhiều hơn đám tang ai. Không phải chỉ vì thương. Tôi biết mình vừa mất người duy nhất từng nghe tiếng của căn nhà trong mơ.

Năm 2012, tôi mất ngủ tới mức đi đường thấy hai bóng. Tháng Bảy, một lần tôi chở con Ngân đi học, ngủ gục trên xe, tông vô bụi tre. Con không sao. Tôi gãy hai cái xương sườn. Ông y sĩ trạm xá xã viết giấy chuyển tôi xuống bệnh viện lớn dưới thành phố, khám thần kinh.

Anh Khải phải đi làm ở Phú Lộc, tôi đi một mình bằng xe buýt. Phòng chờ khoa thần kinh chật cứng, quạt trần quay chậm, mùi cồn trộn mùi mồ hôi. Người ta ngồi trên mấy hàng ghế nhựa xanh, cầm sổ khám chờ gọi tên. Tôi ngồi gần cửa sổ, ôm cái túi vải, mắt cay xè.

Bên kia lối đi có một người đàn ông ngồi. Chừng ba mươi sáu, ba mươi bảy. Gầy, cao, áo sơ mi trắng đã ngả vàng, quần tây sờn gối. Anh ta cầm sổ khám, ngón cái cứ miết lên mép sổ, cái kiểu của người không ngủ lâu ngày.

Tôi không để ý gì hơn. Phòng chờ bệnh viện ai cũng gầy, ai cũng mệt.

Gần trưa, cô y tá đứng ở cửa phòng khám đọc tên.

"Nguyễn Thị Thoa. Hương Hồ, Hương Trà."

Tôi đứng dậy. Ông lão ngồi cạnh tôi nhích chân cho tôi đi. Và tôi thấy người đàn ông gầy bên kia lối cũng đứng dậy theo, đứng bật dậy như ai giật dây. Cuốn sổ khám rơi xuống nền gạch.

Mặt anh ta trắng bệch. Anh ta nhìn tôi, không phải nhìn như người lạ nhìn người lạ. Anh ta nhìn như người nhận ra một người đã chết từ lâu. Môi anh ta run, mở ra hai lần mà không thành tiếng.

Rồi tôi nhìn xuống bàn tay anh ta đang bấu vào lưng ghế nhựa. Ngón trỏ bên phải cụt mất một đốt.

"Mạ thằng Tí," anh ta nói.