Chương 4: Quán nước trước cổng
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Tôi không vô phòng khám. Cô y tá gọi tên tôi thêm hai lần rồi gọi người khác. Tôi đứng giữa lối đi, cái túi vải tuột khỏi vai, nhìn người đàn ông gầy cúi xuống nhặt cuốn sổ khám. Tay anh ta run tới mức nhặt hai lần mới được.
Ra tới cổng bệnh viện anh ta mới nói được một câu cho đủ chữ:
"Chị... chị ngồi với tui một chút. Một chút thôi."
Trước cổng có một cái quán nước chè xanh dưới gốc phượng, mấy cái ghế đẩu nhựa thấp, một bà già bán thuốc lá lẻ. Hai đứa ngồi xuống. Bà già rót hai ly chè, ngó chúng tôi một cái rồi quay đi, chắc tưởng hai vợ chồng có người nhà đang mổ.
Anh ta tên Vĩnh, quê Triệu Phong, Quảng Trị, lái xe khách tuyến Đông Hà vô Huế. Ba mươi sáu tuổi, lớn hơn tôi một tuổi. Có vợ, có một đứa con gái mười tuổi. Anh ta kể những cái đó trước, kể nhanh, như người ta khai lý lịch cho rõ ràng, cho khỏi ai nghĩ bậy.
Rồi anh ta hỏi tôi một câu, giọng Quảng Trị nặng, đứt quãng:
"Chị mơ từ khi mô?"
Tôi nói từ đêm tôi về nhà chồng. Mười hai tháng Giêng năm Kỷ Mão.
Anh ta đặt ly chè xuống. Nước chè sóng ra ngoài.
"Đêm nớ tui ngủ ngoài bến xe Đông Hà, nằm trên băng ghế sau xe. Tui nhớ vì đêm nớ là đêm đầu tiên tui mơ. Tới chừ chưa bỏ đêm mô."
Anh ta kể giấc mơ của anh ta. Tôi ngồi nghe, hai bàn tay úp vào ly chè nóng mà vẫn lạnh.
Anh ta đứng ngoài bến nước. Sau lưng là một chiếc đò, mái chèo gác ngang, nước lạnh ngang bắp chân. Trước mặt là căn nhà rường ba gian, cửa mở, khói trầm bay ra. Trong nhà có một người đàn bà đứng ở bếp, quấn khăn đỏ trên đầu, và một thằng nhỏ cầm chong chóng chạy quanh cột. Anh ta muốn bước vô mà không bước được. Như có ai nắm chân. Nên anh ta đứng ở cửa mà gọi.
"Gọi mạ thằng Tí," tôi nói.
Anh ta gật. Mắt anh ta đỏ lên.
"Mười ba năm tui chưa thấy mặt người đàn bà nớ. Hồi nãy chị đứng dậy, chị quay lưng lại phía tui, tui thấy cái gáy chị..."
Anh ta không nói hết. Anh ta lấy trong túi áo ra một gói thuốc Vinataba, rút một điếu, châm mà không hút.
Tôi hỏi anh ta còn thấy chi nữa. Tôi hỏi để thử. Tôi chưa kể cho anh ta nghe chi tiết nào.
"Cái chong chóng có bốn cánh," anh ta nói. "Ba cánh giấy hồng điều, một cánh giấy báo, có in chữ. Thằng nhỏ làm rách một cánh nên bọ hắn dán đỡ. Cái khăn của người đàn bà thêu một nhành lá bàng, chỉ vàng. Cây bàng ngoài bến có nhánh gãy, gãy vì sét. Bậc đá thứ ba có một cái lỗ, cắm cây sào neo đò."
Cái cánh giấy báo tôi chưa từng để ý. Đêm đó về tôi mơ, tôi nhìn kỹ, và nó đúng là giấy báo. Còn nhành lá trên khăn, tôi thấy suốt chín năm mà không biết lá gì, cho tới khi anh ta nói.
Tôi hỏi tới bàn tay anh ta. Anh ta xòe ra. Ngón trỏ phải cụt một đốt, đầu ngón tròn, láng, không có sẹo.
"Mạ tui nói đẻ ra đã ri," anh ta nói. "Người ta nói tui có tật nợ kiếp trước."
Rồi anh ta kể thêm một chuyện mà nghe xong tôi muốn đứng dậy bỏ đi. Có những sáng anh ta thức dậy thấy hai lòng bàn tay rát bỏng, da tróc thành vệt, như người kéo dây neo cả đêm. Vợ anh ta từng tưởng anh ta đi đánh nhau. Anh ta không giải thích được, đành chịu cho vợ nghĩ vậy.
Bà già bán thuốc lá thu ly. Trưa nắng gắt, bóng phượng ngắn lại dưới chân. Hai đứa ngồi im một hồi lâu.
Tôi phải nói thật một điều, vì không nói thì chuyện này không còn là chuyện thật. Ngồi đối diện anh Vĩnh dưới gốc phượng hôm đó, tôi thấy thương. Không phải thương như thương người dưng tội nghiệp. Tôi muốn đưa tay nắm lấy cái ngón tay cụt kia, muốn hỏi anh ăn cơm chưa, muốn sửa lại cái cổ áo bẻ lệch cho anh. Cái thương đó tới từ một chỗ nào sâu lắm, cũ lắm, không phải của tôi.
Tôi sợ nó hơn sợ giấc mơ.
Anh Vĩnh chắc cũng thấy vậy, vì anh ta nhích ghế ra xa một chút. Anh ta nói nhỏ:
"Tui có vợ. Vợ tui tốt."
"Tui có chồng," tôi nói. "Chồng tui còn tốt hơn."
Anh ta cười, cái cười méo mó mà hiền. Hai đứa thống nhất với nhau, chuyện hôm nay coi như chưa có. Ai về nhà nấy, đi khám bệnh nấy, uống thuốc ngủ bác sĩ cho. Không tìm nhau.
Lúc đứng dậy, anh ta xin cuốn sổ khám của tôi. Anh ta lấy cây bút bi viết số điện thoại vô trang cuối, viết rất nhỏ.
"Lỡ có chuyện," anh ta nói. "Chị không gọi cũng được."
Chiều đó tôi đón xe buýt về Hương Trà, ngồi ghế cuối, nhìn cuốn sổ khám trong tay. Tôi định xé trang cuối. Tôi không xé.
Đêm đó anh Khải còn ở Phú Lộc, tôi ngủ một mình với hai đứa nhỏ. Tôi uống hai viên thuốc ngủ, nằm nghe con Ngân nghiến răng.
Giấc mơ tới. Căn nhà, khói trầm, cây bàng, nước ngang bậc thứ hai. Người đàn ông vẫn đứng ở cửa. Nhưng lần này ánh sáng không còn ở sau lưng anh ta nữa. Tôi thấy mặt. Gò má cao, cằm nhọn, đôi mắt sâu mệt mỏi. Mặt của anh Vĩnh, trẻ hơn mười tuổi.
Anh ta không gọi mạ thằng Tí ơi như mọi đêm. Anh ta nhìn vô gian giữa, rồi nhìn tôi, rồi hỏi, giọng hoảng hốt:
"Tí mô rồi, mạ hắn?"
Tôi quay lại. Gian giữa trống trơn. Không có đứa nhỏ nào chạy quanh cột. Chỉ có cái chong chóng đỏ nằm dưới chân cột cái, tự quay, xè xè, dù trong nhà không có lấy một hơi gió.
Tôi tỉnh dậy, ngồi bật lên. Tóc tôi ướt sũng, nước chảy ròng ròng xuống cổ, thấm lạnh lưng áo. Cái gối ướt như vừa vớt dưới sông lên. Tôi liếm môi. Nước mặn lợ, cái mặn của phá, không phải nước sông Hương.