☾ Truyện Ma Có Thật
← Căn nhà chung một giấc mơ

Chương 5: Tấm ván vẽ nhà

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Anh Khải ở Phú Lộc về vào chiều thứ Bảy, áo còn dính mùn cưa, trên yên xe cột một bó đinh. Tôi đợi tới khi hai đứa nhỏ ngủ, dọn cho anh một mâm cơm muộn, ngồi xuống đối diện. Tôi kể hết chuyện ở bệnh viện. Kể luôn cái thương mà tôi thấy dưới gốc phượng, kể không bớt một chữ.

Tôi đã tính rồi. Nếu anh giận, anh có quyền. Nếu anh đuổi, tôi về Phong Điền.

Anh ăn hết chén cơm. Anh đặt đũa xuống, uống một ngụm nước, rồi đứng dậy đi ra góc nhà kho. Anh lục lọi một hồi, khiêng vô một tấm ván cũ và một cái hộp thiếc đựng bánh quy.

Tấm ván là tấm ván vụn mười ba năm trước, cái đêm sau lụt, anh vẽ căn nhà theo lời tôi tả. Nét chì đã mờ, nhưng còn đọc được: bốn hàng cột, hai chái sụp, mái thấp. Trong hộp thiếc là một xấp giấy học trò gấp tư và một cuốn sổ bìa xanh.

Trong xấp giấy là căn nhà đó, vẽ lại, vẽ đi vẽ lại. Có tờ vẽ cái trính chạm con dơi. Có tờ vẽ bậc đá bến nước, có cái lỗ cắm sào. Có tờ chỉ vẽ một cây bàng có nhánh gãy. Những chi tiết tôi buột miệng kể trong mười mấy năm, những lúc tôi tưởng anh không nghe, anh đều vẽ ra.

Trong cuốn sổ bìa xanh là tên làng. Tên bến. Viết bằng nét chữ thợ mộc to và vụng, mỗi dòng một chỗ, có ghi ngày. Bến Thanh Hà, gạch. Xóm Cồn, gạch. Bến Đò Hạ, gạch. Hơn bốn chục dòng, dòng nào cũng bị gạch ngang bằng mực tím.

"Năm mô đi làm dưới Quảng Điền, dưới Phong Điền, anh cũng hỏi," anh nói. "Hỏi chỗ mô có nhà rường ba gian, mái thấp, bến có cây bàng. Người ta chỉ thì anh tới coi. Chưa có cái mô đúng."

Tôi hỏi anh, răng anh không nói với em. Anh gãi đầu, mùn cưa rơi lả tả trên mâm.

"Nói làm chi. Lỡ không tìm ra, em lại buồn thêm."

Tôi khóc. Lần thứ hai trong đời tôi khóc trước mặt anh vì giấc mơ đó. Anh để tôi khóc, không dỗ, chỉ ngồi đó gõ gõ ngón tay lên tấm ván cũ.

Một hồi anh nói, mắt vẫn nhìn tấm ván:

"Em gọi cho anh nớ đi. Kêu anh nớ xuống đây. Anh muốn hỏi chuyện cái đò."

Tôi hỏi anh có giận không. Anh nghĩ lâu lắm mới trả lời, mà trả lời rất ngắn.

"Giận thì giận ai. Em ở đây mười ba năm. Anh biết em ở đây."

Thứ Bảy tuần sau, anh Vĩnh chạy xe máy từ Đông Hà vô, gần trăm cây số. Ba người ngồi ở hiên nhà, bên cái bàn tre, ấm chè vối, đĩa đậu phụng rang. Anh Vĩnh ngồi cứng đơ trên ghế, hai tay để trên đầu gối, bộ dạng y hệt anh Khải đêm tân hôn. Tôi ngồi xa cả hai người.

Anh Khải hỏi chuyện như hỏi một người thợ cùng nghề. Hỏi cái đò sau lưng anh Vĩnh trong mơ dài chừng mô, có mui không, mũi đò cong hay bằng. Anh Vĩnh tả, anh Khải gật gù.

"Đò dọc có mui, mũi vểnh, ri là đò chở khách dưới phá Tam Giang. Đò trên sông Hương mũi bằng hơn."

Rồi anh hỏi nước trong mơ có sóng không, có cỏ nổi không. Anh Vĩnh nói mặt nước lặng, rộng không thấy bờ, thỉnh thoảng trôi qua một đám rong. Anh Khải lấy cuốn sổ bìa xanh, lật tới trang cuối, ghi mấy chữ.

"Nước rộng không thấy bờ mà lặng, có rong, là phá. Không phải sông. Mạ em nói bến dưới Quảng Điền. Quảng Điền giáp phá có khúc sông Bồ đổ ra. Anh chưa đi hết khúc nớ."

Ba người ngồi tới chạng vạng. Lúc anh Vĩnh về, anh Khải tiễn ra tới cổng, hai người đàn ông đứng nói gì với nhau tôi không nghe được. Tôi chỉ thấy anh Vĩnh cúi đầu rất thấp.

Chuyện đó không phải ai cũng chịu được như anh Khải. Mười ngày sau, một buổi tối, máy điện thoại bàn nhà tôi reo. Đầu dây bên kia là giọng đàn bà, Quảng Trị, nghẹn mà lạnh.

"Chị là Thoa hỉ? Tui là vợ anh Vĩnh."

Tôi dạ. Chị im một hồi, nghe tiếng thở ngắt quãng.

"Mười ba năm, đêm mô ổng cũng nói mớ. Kêu mạ thằng Tí, mạ thằng Tí. Tui tưởng ổng có con riêng ở mô. Tui đi hỏi khắp Triệu Phong. Chừ tui biết mạ thằng Tí là ai rồi."

Tôi định giải thích. Chị cúp máy.

Anh Vĩnh gọi lại sau đó hai ngày. Vợ anh dắt con về nhà ngoại ở Gio Linh. Anh không trách ai, chỉ nói một câu, giọng khàn:

"Tui với chị đi tìm cho xong. Tìm cho xong rồi tui về đón vợ con."

Ba người hẹn sáng Chủ nhật đầu tháng Chín âm lịch đi Quảng Điền. Anh Khải mượn thêm một chiếc xe máy cho anh Vĩnh, đổ đầy xăng.

Đêm thứ Bảy, tôi xếp đồ cho chuyến đi. Một bình nước, mấy gói xôi, cái áo mưa. Hai đứa nhỏ ngủ ở giường bên. Gần sáng, con Ngân trở mình, bò qua giường tôi, rúc vô nách tôi, người lạnh ngắt.

"Mạ," nó nói, nửa thức nửa ngủ. "Hồi khuya có chú nớ đứng ngoài cửa sổ."

Tôi hỏi chú nào. Nó nói chú gầy gầy, áo ướt. Chú đứng ngoài cửa sổ, chỗ vườn chuối, ngó vô giường mạ.

"Chú hỏi con, Tí có ở trong nớ không."

Sáng ra, ở cái vạt đất ướt dưới cửa sổ phòng tôi, có hai dấu chân trần, sâu, đầy nước. Ngón chân xòe ra như chân người quen đi trên ván đò. Hai dấu chân đứng yên một chỗ, không có dấu tới, không có dấu đi.

Chín giờ sáng anh Vĩnh tới. Chưa kịp dựng xe, anh đã nói, mặt xám ngoét:

"Đêm qua tui mơ khác. Tui không đứng ở bến nữa. Tui đứng ngoài một cái cửa sổ, ngó vô một cái giường gỗ mít, chân giường chạm hoa sen."