☾ Truyện Ma Có Thật
← Căn nhà chung một giấc mơ

Chương 6: Cây bàng gãy nhánh

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Ba người chạy hai chiếc xe máy, men theo con đường đất dọc sông Bồ, từ chợ huyện Phong Điền xuôi về phía phá. Tháng Chín âm lịch, trời đã vào mùa mưa, mây xám đè thấp xuống ngọn tre. Ruộng hai bên gặt xong, gốc rạ ngập nước, mấy đàn vịt chạy đồng lội lúp xúp.

Anh Khải đi trước, chở tôi, cuốn sổ bìa xanh nhét trong túi áo ngực. Gặp làng nào ven sông anh cũng dừng. Hỏi bà bán xôi, hỏi ông ngồi vá lưới, hỏi mấy đứa nhỏ tắm sông. Có ai biết căn nhà rường ba gian, mái thấp, bến có cây bàng gãy nhánh không.

Người ta chỉ nhiều chỗ. Ba người tới ba chỗ. Một cái nhà rường đã bán cho người Sài Gòn tháo đi, chỉ còn cái nền gạch. Một cái nhà thờ họ, có cây bàng mà không có bến. Một cái bến có cây bàng, mà nhà phía sau là nhà xây hai tầng lát gạch men.

Anh Khải gạch ba dòng trong cuốn sổ, mực tím loang ra vì tay ướt.

Quá trưa, ba người dừng ăn xôi ở một quán tạp hóa gần chỗ sông Bồ đổ ra phá. Ông chủ quán ngồi rít thuốc lào, nghe anh Khải hỏi, gõ cái điếu cày xuống chân bàn.

"Nhà rường mái thấp, bến có cây bàng bị sét đánh hả? Xuống xóm Cồn Bàng coi. Cuối xóm, sát mép phá. Mà nhà nớ có chủ giữ, chủ khó lắm. Mấy ông cò đất xuống hỏi mua bị rượt chạy hoài."

Đường xuống xóm Cồn Bàng là một con đê nhỏ, hai bên là đầm nuôi tôm, nước đục như nước vo gạo. Gió phá thổi ngang, mặn và tanh, quất cát vô mặt. Anh Vĩnh chạy sau, càng gần xóm anh chạy càng chậm, có lúc tôi ngoái lại tưởng anh dừng.

Cuối xóm, con đê hết. Phía trước là mặt phá Tam Giang, rộng không thấy bờ, phẳng lì, màu chì.

Và cây bàng đứng đó.

To lắm, gốc ba người ôm, rễ bò lên mặt đất như một bầy rắn. Lá đã ngả đỏ. Một nhánh lớn phía tây gãy gập, đầu nhánh chúi xuống mặt nước, vỏ cháy đen một vệt dài từ ngọn xuống. Dưới gốc là một cái bến bốn bậc đá xanh rêu phủ. Bậc thứ ba có một cái lỗ tròn.

Tôi xuống xe mà chân không chạm đất. Tôi nghe được tiếng mình thở, nghe được tiếng máu chạy trong tai.

Sau cây bàng là căn nhà. Nhà rường ba gian, mái thấp, hai chái sụp gần tới đất. Chái bên tả đã đổ một nửa, người ta lợp tạm mấy tấm tôn rỉ sét, buộc bằng dây kẽm. Ngói âm dương trên mái chính vỡ lỗ chỗ, rêu mọc thành từng đám. Cửa bàn khoa gian giữa khép hờ.

Anh Khải đứng nhìn căn nhà một hồi lâu, không nói. Rồi anh rút cuốn sổ ra, mở trang cuối, rồi lại cất vô, không ghi gì. Tay anh run.

Tôi bước lên bến. Tới bậc thứ hai, chân tôi tự né sang bên phải, né một hòn đá kênh. Tôi không biết vì sao. Tôi cúi xuống nhìn, hòn đá bên trái lung lay thật, đặt chân lên là trượt.

Tôi đi tới cửa. Anh Vĩnh đi sau tôi. Tới ngạch cửa, anh dừng.

Không phải anh muốn dừng. Tôi thấy anh nhấc chân mà chân không lên, như bị ai nắm cổ chân ghì xuống. Mặt anh trắng bệch, mồ hôi rịn trên trán dù gió phá lạnh. Anh đứng ngay ngạch cửa, đúng chỗ người đàn ông trong mơ đứng, mười ba năm.

"Tui không vô được," anh nói, giọng như người bị nghẹt nước.

Đúng lúc đó, từ phía phá có tiếng mái chèo khua nước, rồi tiếng một người đàn ông la:

"Ai đó! Đi ra! Nhà ni không bán!"

Một chiếc ghe nan nhỏ đang cập bến. Người chèo là một ông già. Tóc bạc trắng, lưa thưa, da đen sạm như da trâu, lưng còng xuống. Ông mặc cái áo ba lỗ thủng nhiều chỗ, quần đùi, chân trần bám đầy bùn. Trên cái mui nan cũ của ghe có cắm một cái chong chóng giấy đỏ, gió phá thổi quay tít.

Ông nhảy lên bậc đá, tay cầm cây sào, chĩa về phía ba người.

"Đi! Tui nói rồi, không bán! Không bán!"

Anh Khải bước ra, hai tay xòe ra trước, nói nhỏ nhẹ. Anh nói anh là thợ mộc, đi coi nhà rường cổ chơi, không mua bán chi hết. Ông già không nghe. Ông cứ chĩa cây sào, miệng lặp đi lặp lại không bán, không bán, như cái máy hát kẹt đĩa.

Rồi anh Khải đưa tay vỗ nhẹ lên cây cột hiên. Anh nói:

"Cột lim, thợ làm giỏi thiệt. Mấy chục năm mà không mọt."

Ông già ngưng la. Ông nhìn bàn tay anh Khải trên cột, rồi nói một câu tôi không hiểu được:

"Người ta làm cho tui ở. Tui giữ. Không ai lấy."

Tôi đứng sát cửa, tay bám vô cánh cửa bàn khoa. Tôi sợ. Tôi sợ ông già, sợ cái nhà, sợ chính mình. Và khi tôi sợ thì miệng tôi hát, như hồi đứng trong nước lụt. Tôi hát rất nhỏ, gần như thì thầm:

"Ơ... Chong chóng ai xoay, gió nồm về bến cũ..."

Ông già quay phắt lại. Cây sào rơi khỏi tay, lăn xuống bậc đá, rớt tõm xuống nước. Ông nhìn tôi. Cặp mắt đục ngầu của ông mở to, môi ông mấp máy theo, không ra tiếng, mà đúng từng chữ.

Rồi ông quay lưng, lội xuống nước, leo lên ghe, chèo đi. Ông chèo rất nhanh, không ngoái lại, cái chong chóng trên mui quay mỗi lúc một mờ dần trên mặt phá xám.

Tôi đẩy cánh cửa bàn khoa. Bản lề kêu một tiếng dài.

Bên trong tối, mùi ẩm mốc, mùi khói bếp cũ, và mùi trầm. Bàn thờ thấp vẫn ở đó, ngay dưới cái trính chạm con dơi, nhưng trống trơn, không ảnh, không bài vị, chỉ có một cái lư hương đất nung sứt miệng.

Cây cột cái đứng giữa gian. Đen bóng. Và cắm kín trên thân cột, trong từng kẽ nứt, từ ngang đầu gối tới ngang ngực, là chong chóng giấy đỏ. Hàng chục cái. Có cái mới tinh. Có cái đã phai thành màu hồng nhạt, mục nát, chỉ còn cái que tre.

Không có gió. Vậy mà tất cả đều đang quay.