☾ Truyện Ma Có Thật
← Căn nhà chung một giấc mơ

Chương 7: Lời mệ Gái

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Người chỉ đường cho chúng tôi tới mệ Gái là ông chủ quán tạp hóa. Ông nói muốn biết chuyện xóm Cồn Bàng thì hỏi mệ, mệ ở đây từ hồi Tây, năm nay tám mươi tám, mắt mờ mà đầu còn sáng hơn bọn trẻ.

Nhà mệ là căn nhà ngói ba gian nhỏ ở chân đê, cách căn nhà rường chừng trăm thước. Mệ ngồi trên bộ ván gõ, nhai trầu, tóc búi củ hành bạc trắng, đôi mắt mờ đục ngó về phía cửa. Cháu nội mệ rót nước rồi lui ra sau bếp.

Anh Khải mở lời, nói chúng tôi là người Huế, đi tìm nhà của người quen cũ. Mệ Gái nghe xong nhổ bã trầu vô cái ống nhổ bằng đồng, rồi hỏi một câu không ai ngờ:

"Nhà anh Đò với o Hò hả?"

Căn nhà rường dựng năm Tân Sửu, mệ nói, tức năm 1961. Người dựng là một cặp vợ chồng trẻ ở ngoài Quảng Trị vô. Không có bà con chi ở đây hết. Người xóm kháo nhau là hai đứa trốn nhà đi theo nhau. Con gái nhà giàu ngoài Triệu Phong, đã có nơi hỏi cưới, mà thương một thằng chèo đò. Đêm trước ngày đưa dâu, hai đứa lên đò chèo một mạch vô tới phá.

"Thằng chồng làm đò chở khách qua phá. Gầy nhom, cao nhòng, mà chèo khỏe như trâu. Ngón tay trỏ bị dây neo cứa mất một khúc. Người xóm kêu là anh Đò. Con vợ thì hò mái nhì hay nhất cái xóm ni, đêm đêm ngồi bến hò chờ chồng về. Người xóm kêu là o Hò."

Anh Vĩnh ngồi cạnh tôi, bàn tay phải co lại trên đầu gối.

Tôi hỏi mệ, tên thật hai người là chi. Mệ lắc đầu. Mệ nói hồi đó người ta trốn nhà thì giấu tên, sợ nhà con gái đi tìm. Trong xóm kêu riết anh Đò, o Hò thành quen, không ai hỏi nữa.

"Hai đứa thương nhau dữ lắm," mệ nói, và mệ cười, cái cười móm mém của người nhớ chuyện con nít. "Thương tới người ta cười. Thằng chồng đi đò về khuya, con vợ đứng bến chờ, cầm cái đèn dầu, gió phá thổi tắt rồi đốt lại, tắt rồi đốt lại. Thằng chồng có đồng mô là mua cho vợ, mua cái khăn đỏ, mua lư trầm. Con vợ thì ngày mô cũng đốt trầm, nói cho nhà thơm, chồng về khỏi nghe mùi bùn."

Mệ kể, đứa con trai của họ sinh tháng Tư năm Tân Sửu, cùng năm dựng nhà. Ở nhà kêu là thằng Tí. Thằng nhỏ lanh lắm, suốt ngày cầm cái chong chóng giấy bọ nó làm cho, chạy vòng vòng trong nhà.

Tôi nhìn xuống tay mình. Hai bàn tay tôi bấu chặt vào nhau tới trắng bệch.

Rồi tới năm Giáp Thìn.

"Lụt năm Thìn," mệ nói, giọng chùng xuống. "Mồng chín tháng Mười. Mưa ba ngày ba đêm, nước nguồn đổ về, gặp nước biển dâng ngoài cửa Thuận An, hai bên ép lại. Cả cái xóm Cồn ni chìm. Đêm nớ thằng chồng đi đò chở người dưới cồn lên chỗ cao. Đi mấy chuyến. Chuyến cuối không thấy về."

Mệ ngưng một hồi. Ngoài sân, gió phá thổi rạp mấy bụi xương rồng.

"Sáng ra nước còn ngập, cái chái nhà nớ sập một bên. Không thấy ai. Mười bốn ngày sau người ta vớt được hai vợ chồng dưới cửa Thuận An. Hai đứa ôm nhau cứng ngắc, gỡ không ra. Người ta chôn chung một huyệt, trong cái mả lụt sau đồi cát."

Tôi hỏi, giọng tôi không còn là giọng tôi:

"Còn thằng nhỏ, mệ?"

Mệ Gái lắc đầu chậm rãi. Mệ nói không thấy. Mệ nói lụt đó trôi người ra biển nhiều lắm, có đứa nhỏ cả đời không tìm được. Người xóm thắp nhang cho nó chung với cha mẹ, không có nấm mồ riêng.

Anh Vĩnh đứng dậy, đi ra hiên. Tôi thấy lưng anh rung rung. Anh Khải ngồi im, nhìn ra cửa, hai bàn tay thợ mộc nắm hờ trên đùi.

Tôi hỏi tới ông già giữ nhà. Mệ Gái chép miệng.

"Thằng Lượm hả. Tội nghiệp. Hắn không phải người xóm ni. Năm bảy tám, bảy chín chi đó, hắn mười sáu, mười bảy tuổi, ở đâu dưới Thuận An lang thang lên. Nghe nói lụt năm Thìn người ta lượm được hắn dưới nước, nên kêu là Lượm. Một nhà đánh cá dưới nớ nuôi. Lớn lên đầu óc không được tỉnh, hỏi chi cũng ngơ ngơ."

Hắn tới xóm Cồn Bàng, chui vô cái nhà rường bỏ hoang ngủ một đêm, rồi không chịu đi nữa. Người xóm thấy nhà không có chủ, để cho hắn ở. Hắn sửa mái, trét vách, dựng lại cái chái. Hắn chài lưới ngoài phá, ai cho chi ăn nấy. Mấy chục năm, ai hỏi mua đất hắn cũng rượt.

"Hắn hò cũng hay," mệ Gái nói. "Đêm đêm ra phá hò. Hò giống o Hò lắm. Chắc hồi nhỏ dưới Thuận An hắn nghe ai đó hò."

Mệ nói câu đó như người ta nói chuyện thời tiết, rồi với tay lấy miếng trầu khác.

Tôi đưa mắt nhìn anh Khải. Anh không nhìn tôi. Anh đang nhìn ra phía căn nhà rường, nơi cây bàng đứng đen thẫm trên nền trời chiều.

Trước khi chúng tôi về, mệ Gái kêu tôi lại gần. Mệ đưa bàn tay nhăn nheo sờ lên mặt tôi, sờ trán, sờ mũi, sờ cằm, như người mù sờ chữ nổi. Tay mệ thơm mùi vôi với mùi trầu.

"Con nói câu chi đó coi," mệ nói.

Tôi nói, dạ, con chào mệ. Mệ rụt tay lại.

"Giọng con giống o Hò," mệ nói nhỏ. "Mấy chục năm, tui tưởng quên rồi."

Rồi mệ nói thêm một chuyện, mắt nhìn đâu đâu ngoài cửa.

"Đêm nước lên, nhà tui ở trên đê, tui nghe rõ. Ban đầu o Hò hò ngoài bến, hò một câu tui chưa nghe bao giờ. Rồi tắt. Rồi tới thằng Tí khóc. Nó khóc kêu mạ ơi, mạ ơi, trong cái nhà nớ, khóc suốt đêm. Gần sáng thì tắt."

Mệ im một hồi lâu, rồi nói, rất khẽ:

"Mấy chục năm rồi. Có đêm mưa to, tui còn nghe nó khóc trong cái nhà nớ."