☾ Truyện Ma Có Thật
← Căn nhà chung một giấc mơ

Chương 8: Đêm trong nhà rường

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Đêm đó ba người ngủ nhờ nhà mệ Gái. Sáng sớm, anh Khải đi bộ ra bến cây bàng ngồi chờ. Gần trưa ông Lượm chèo ghe về, thấy anh thì đứng sững trên mũi ghe, tay nắm cây sào mới.

Anh Khải không nói chuyện mua bán. Anh chỉ lên mái nhà, chỗ ngói vỡ ngay trên cây cột cái, nói mùa lụt sắp tới, mái dột ri thì cột mục. Anh nói anh sửa không lấy tiền, sửa xong là đi.

Ông Lượm nhìn anh rất lâu. Rồi ông nhìn tôi đứng sau lưng anh. Ông gật một cái, nói cộc lốc:

"Ông thợ sửa. Mà không được đụng cái cột."

Hai ngày sau đó anh Khải với anh Vĩnh lên mái. Anh Khải chở về một xe ngói cũ, mấy cây đòn tay. Anh Vĩnh vẫn không bước qua được ngạch cửa. Anh đứng ngoài, bắc thang leo thẳng lên mái từ phía hiên, cả ngày không đặt chân vô trong nhà một lần.

Tôi nấu cơm cho mọi người bằng cái bếp kiềng của ông Lượm ở chái sau. Ông Lượm ngồi chồm hổm ở góc bếp, vá lưới, không nói. Nhưng tôi biết ông nhìn tôi. Nhìn tay tôi bóp me, nhìn tôi thả rau ngổ vô nồi canh chua cá dìa, nhìn tôi nêm nước mắm.

Lúc tôi múc cho ông một chén, ông cầm chén, hít một hơi dài, rồi nói, không ngẩng lên:

"Nấu giống ai."

Tôi hỏi giống ai. Ông lắc đầu, mắt ngơ ngác như đứa nhỏ bị hỏi bài.

"Không biết. Giống ai đó."

Tối thứ hai, trời đổ mưa. Ông Lượm vẫn chèo ghe ra phá thả lưới như mọi đêm, chiếc áo mưa ni lông trùm qua đầu. Anh Vĩnh về ngủ bên mệ Gái. Anh Khải nhất định ở lại với tôi trong căn nhà rường. Anh nói em muốn ở thì anh ở. Hai vợ chồng trải chiếu ở gian bên hữu.

Tôi không ngủ được. Tôi nằm nhìn cây cột cái chìm trong bóng tối gian giữa, kín mít chong chóng.

Gần khuya, tiếng ếch nhái ngoài đầm tôm im bặt. Mưa vẫn rơi, mà tiếng mưa như bị bọc trong một lớp bông. Mùi trầm bốc lên đặc quánh, ngọt và đắng, đặc tới mức tôi nuốt nước bọt cũng thấy vị. Rồi tôi nghe tiếng nước. Không phải tiếng mưa. Tiếng nước vỗ ì oạp vào bậc đá ngoài bến, vỗ lên từng bậc, như nước đang dâng.

Mặt phá đêm đó lặng. Sáng ra tôi hỏi ông Lượm. Phá lặng suốt đêm.

Gian giữa có ánh sáng. Không có đèn dầu, không có lửa. Ánh sáng vàng đục như đèn dầu nhìn qua lớp kính bám khói. Và trong ánh sáng đó, ở chân cây cột cái, có một đứa nhỏ.

Thằng Tí. Cởi trần, quần đùi vải đen, tay cầm cái chong chóng đỏ có một cánh giấy báo. Nó đứng thật, ngoài đời thật, cách tôi chừng năm bước, chân trần trên nền đất nện ướt sũng.

Nó chạy quanh cột. Ngược chiều kim đồng hồ, đúng như mười ba năm trong mơ. Nhưng lần này tôi thấy cái mà mười ba năm tôi không thấy.

Quanh bụng nó có một cái khăn đỏ. Góc khăn thêu một nhành lá bàng bằng chỉ vàng. Đầu kia cái khăn buộc chặt vào cây cột. Nó không chạy chơi. Mỗi vòng nó chạy, cái khăn quấn thêm một vòng vào cột, ngắn lại, kéo nó sát vào thân cột hơn. Nó chạy không phải vì vui. Nó chạy vì nó đang tìm đường ra.

Vòng thứ năm, thứ sáu, cái khăn chỉ còn một gang tay. Lưng nó dán vào cột. Nó không chạy được nữa. Nó đứng đó, cái chong chóng vẫn quay, và nó khóc. Tiếng khóc của đứa nhỏ ba tuổi, khàn, đứt hơi, như đã khóc lâu lắm rồi.

"Mạ ơi. Mạ ơi."

Tôi không biết mình đứng dậy lúc nào. Tôi chỉ biết tôi đang quỳ trước cây cột, hai tay đưa ra. Tôi chạm vào nó. Da nó lạnh như cá vừa vớt lên, ướt sũng, nhớp bùn. Tôi ôm nó vào lòng. Nó nhẹ như một bó rơm.

Nó ngước lên nhìn tôi. Mặt nó tôi chưa thấy bao giờ, mà tôi biết từng sợi lông mày.

"Mạ kêu bọ về chưa?" nó hỏi.

Tôi mở miệng mà không có tiếng. Tôi không biết trả lời làm sao. Tôi chưa kêu bọ nó về. Tôi chưa bao giờ về.

Sau lưng tôi, anh Khải thức dậy. Sau này anh kể lại cái anh thấy. Anh thấy tôi quỳ trước cây cột cái trong bóng tối, hai tay ôm vòng một khoảng không, đầu cúi sát như đang áp má vào đầu ai đó. Anh thấy mấy chục cái chong chóng trên cột quay tít, kêu xè xè như một đàn ve. Và anh thấy trên nền đất nện quanh chân cột những dấu chân trần rất nhỏ, ướt, in chồng chất lên nhau, vòng này đè vòng kia.

Anh không gọi tôi. Anh nói, anh sợ gọi thì tôi giật mình, mất đứa nhỏ.

Rồi từ ngoài phá, qua tiếng mưa, có một giọng hò vọng vào. Giọng đàn ông, khàn, chậm, kéo dài như mái chèo khua nước:

"Ơ... Chong chóng ai xoay, gió nồm về bến cũ..."

Thằng Tí trong lòng tôi nín khóc ngay. Nó quay đầu về phía cửa, mắt sáng lên. Nó nói, giọng vui mừng như đứa nhỏ nghe tiếng xe đạp của cha ngoài ngõ:

"Mạ hò kìa. Mạ về rồi."

Cái khăn đỏ quanh bụng nó tuột ra, rơi xuống, tan vào bóng tối như một vệt nước. Nó vùng khỏi tay tôi, chạy ra cửa. Tới ngạch cửa, nó biến mất.

Ánh sáng tắt. Tiếng ếch nhái ngoài đầm kêu trở lại.

Sáng hôm sau, anh Khải dắt tôi ra coi. Những dấu chân nhỏ trên nền đất đã khô, đóng thành vệt bùn mỏng. Chúng đi vòng quanh cột không biết bao nhiêu vòng, rồi dứt ra, đi thẳng ra cửa. Qua ngạch cửa, xuống bậc đá thứ nhất, bậc thứ hai, né hòn đá kênh bên trái, xuống bậc thứ ba.

Dưới bậc thứ tư là chiếc ghe nan của ông Lượm, cột dây vào cái lỗ cắm sào, hai nút, nút sau thắt ngược lại. Ông Lượm nằm co trong khoang ghe, ngủ say, người co quắp như một đứa trẻ, hai tay ôm chặt cái chong chóng đỏ trên mui vào ngực.

Môi ông mấp máy. Tôi cúi sát xuống mới nghe được.

"Mạ ơi."