Chương 5: Đêm mất điện
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Tôi quyết định ở lại phòng nhạc một đêm. Không phải vì gan. Tôi chỉ thấy nếu cứ ngồi trong phòng trọ chờ bàn tay mình dính bùn thì sớm muộn tôi cũng phát điên. Tôi muốn nhìn tận mắt.
Tôi nói với bác Lộc. Bác đang tưới mấy chậu ngâu trước phòng bảo vệ, nghe xong thì đặt bình tưới xuống.
"Cô giáo dại thế. Ở đấy làm gì."
"Bác cho cháu ở một đêm thôi. Có gì cháu gọi bác."
Bác nhìn tôi một lúc, rồi bảo thôi được, bác ngủ ở phòng bảo vệ, cô giáo cầm cái đèn pin này, có gì cứ hét. Bác còn dúi cho tôi một nắm gạo muối gói trong tờ lịch. Bác bảo người già trong xóm dặn thế, cô cứ cầm cho yên bụng.
Tối thứ Bảy, trời oi, mây đùn đen phía thượng nguồn. Tôi mang lên phòng nhạc một cái chiếu, cái gối, chai nước, cái điện thoại sạc đầy pin. Tôi ngồi dựa lưng vào tủ gỗ ở góc phòng, cách cây đàn chừng năm bước, đèn tuýp bật sáng trưng. Tôi không phủ tấm nhung. Tôi để bàn phím trơ ra, như để chờ.
Gần mười giờ, gió nổi. Chớp cửa sổ đập liên hồi. Rồi một tiếng nổ lụp bụp ở đâu đó dưới xóm, và cả trường tối sập. Mất điện. Mùa bão ở ven sông chuyện ấy thường như cơm bữa, nhưng ngồi trong bóng tối ấy, tôi thấy tim mình đập lên tận cổ.
Tôi bật đèn pin. Vệt sáng vàng run run trên bàn phím. Tôi đặt đèn xuống chiếu, hướng lên trần, cho cả phòng có chút ánh sáng.
Ngoài đê, ếch nhái đang kêu. Rồi chúng tắt.
Mùi bùn bốc lên từ sàn, không phải từ cửa sổ. Từ ngay dưới chân tôi, từ những khe gạch hoa. Hơi lạnh tràn qua chiếu, ngấm vào lưng. Tôi nghe tiếng nước nhỏ giọt, tách, tách, tách, đều đều ở phía cây đàn.
Cây đàn không có điện. Phích cắm của nó nằm trên sàn. Vậy mà đèn nguồn nhỏ màu đỏ bật sáng.
Rồi có người ngồi ở ghế đàn.
Tôi không thấy người ấy đến. Như thể người ấy vẫn ngồi đó từ đầu, chỉ đến bây giờ mắt tôi mới nhìn ra. Một cô bé mặc áo sơ mi trắng học sinh, váy xanh tím than, tóc tết hai bên. Tóc ướt sũng, bết vào lưng áo. Nước chảy từ đuôi tóc xuống, nhỏ tong tỏng trên mặt ghế, chảy thành dòng xuống chân ghế. Có rong mảnh như chỉ vướng ở cổ áo.
Cô bé đặt tay lên phím. Bắt đầu chơi.
Câu đầu tiên đi lên bốn nốt, rồi buông xuống. Tay cô bé nhỏ, ngón gầy, chơi chậm và cẩn thận, kiểu người tự học. Trên giá nhạc trước mặt cô không có gì cả, nhưng cứ hết một câu, cô lại đưa tay lên, làm động tác lật trang. Lật một trang giấy không có. Rồi ngón tay cô dò theo một dòng gì đó trên giá nhạc trống, như dò từng nốt mình đã viết.
Tôi ngồi im, không thở được. Nắm gạo muối trong tay tôi ướt mồ hôi.
Đến câu thứ ba, cô bé dừng lại trước nốt Pha thăng. Ngón tay cô treo lơ lửng trên phím đen. Và cô từ từ quay đầu nhìn về phía tôi.
Tôi không nhìn rõ mặt. Ánh đèn pin hắt từ dưới lên, chỉ đủ thấy một khuôn mặt nhợt, ướt, đôi mắt trũng như trong tấm ảnh năm 1999. Cô bé đứng dậy. Nước từ váy cô chảy thành vũng trên sàn. Cô đi về phía tôi. Mỗi bước, gạch hoa in một dấu chân bùn đỏ.
Tôi muốn ném nắm gạo. Tay tôi không nhấc lên được.
Cô bé cúi xuống, cầm lấy bàn tay trái của tôi. Tay cô lạnh như nước sông tháng Chạp, mềm và nhão như tay người ngâm nước lâu ngày. Cô kéo tôi đứng dậy. Tôi đi theo, như người mộng du, đến bên cây đàn. Cô đặt ngón trỏ của tôi lên phím Pha thăng, rồi ấn xuống.
Nốt nhạc vang lên, chói, dài.
Cô bé ghé sát tai tôi. Tôi ngửi thấy mùi bùn, mùi rong, và một mùi rất nhẹ, mùi dầu gió xanh, cái mùi của người chăm người ốm. Giọng cô khàn khàn, đúng giọng trong bản ghi âm.
"Cô ơi... nốt này đúng mà."
Rồi tay cô rời tay tôi. Tôi nghe tiếng móng tay cào lên nhựa, rẹt, rẹt, năm lần liền, ở ngay bên cạnh. Tôi không biết mình ngất từ lúc nào.
Tôi tỉnh dậy vì bác Lộc lay vai. Trời đã sáng. Điện đã có lại, đèn tuýp sáng trắng. Tôi nằm sõng soài dưới chân giá đàn, tóc và vai áo ướt đẫm. Ngón trỏ tay trái tôi dính một vệt bùn đỏ đã khô thành vảy.
Bác Lộc không hỏi gì. Bác chỉ tay lên nắp đàn.
Trên mặt nhựa đen, ngay phía trên bàn phím, có năm đường cào song song, dài gần một gang tay, đều nhau như kẻ bằng thước. Năm đường kẻ của một khuông nhạc. Khe cào còn dính bùn.
Gần trưa, thầy Khiêm lên. Bác Lộc gọi điện báo thầy, tôi không ngăn kịp. Thầy đứng ở cửa, nhìn vũng nước đã khô thành vệt trên sàn, nhìn năm đường cào trên nắp đàn. Thầy không bước vào phòng.
"Bác Lộc, chiều nay bác gọi người khiêng cái đàn này xuống kho. Thanh lý đi. Mua đàn mới."
Bác Lộc đứng im. Rồi bác lắc đầu, chậm.
"Thầy thuê người khác khiêng thầy ạ. Năm chín chín thầy bảo tôi khiêng nó đi một lần rồi. Khiêng đến chân cầu thang thì nó kêu, kêu cả đêm. Tôi không khiêng nữa."
Thầy Khiêm quay sang tôi. Lần đầu tiên tôi thấy thầy sợ. Không phải sợ ma. Thầy nhìn tôi như nhìn một người vừa đọc được thư riêng của mình.
"Em đừng đi đâu hỏi han gì nữa. Chuyện cũ, làm khổ người ta."
Thầy đi rồi, tôi mới nghĩ lại chữ "người ta" ấy. Tôi không biết thầy đang nói về cô bé, về bố cô bé, hay về chính thầy.