☾ Truyện Ma Có Thật
← Cây đàn phòng nhạc

Chương 6: Người cha xóm Bãi

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Tôi không nghe lời thầy Khiêm. Chủ nhật, tôi đạp xe theo đường đê, xuống dốc sang xóm Bãi.

Xóm Bãi nằm ngoài đê, trên bãi bồi sát sông, mùa lũ nước lên tận chân nhà. Nhà nào cũng xây nền cao, có bậc tam cấp dài. Ruộng bãi trồng ngô, trồng chuối, xen mấy vạt dâu. Tôi hỏi một bà đang phơi ngô trước ngõ nhà ông Tư bố cái Hiền. Bà dừng tay cào ngô, nhìn tôi từ đầu đến chân.

"Cô ở trường lên à? Nhà ông ấy cuối xóm, cạnh bến Rùa. Mà ông ấy không tiếp người trường đâu cô."

Nhà ông Tư là căn nhà cấp bốn mái ngói, tường vôi vàng đã loang lổ. Sân gạch rêu mọc xanh. Một ông già gầy, lưng hơi gù, đang ngồi trên chiếc ghế đẩu đan lại cái lưới vó. Tôi chào, giới thiệu mình là giáo viên mới ở trường cấp ba. Ông không ngẩng lên.

"Lại trường ấy. Hai chục năm rồi các người còn muốn gì nhà tôi nữa."

"Cháu không đến vì nhà trường bác ạ. Cháu đến vì một bài hát."

Ông dừng tay. Tôi đứng giữa sân, hát khẽ câu đầu. Tôi hát đến câu thứ ba, và tôi hát nốt Pha thăng, như cô bé đã ấn tay tôi xuống.

Ông Tư ngồi im. Cái thoi đan lưới rơi xuống sân. Một lúc lâu sau, ông đứng dậy, đi vào nhà, để cửa mở. Tôi hiểu là ông cho tôi vào.

Trong nhà tối và mát. Trên ban thờ có hai tấm ảnh. Một người đàn bà chừng bốn mươi, tóc vấn, mặt hiền. Bên cạnh là cô bé tóc tết hai bên, mặc áo trắng, ảnh thẻ phóng to, nét mặt nghiêm như mọi ảnh thẻ. Đôi mắt ấy tôi đã thấy hai lần. Lần trong album, và lần dưới ánh đèn pin.

Ông Tư thắp ba nén hương, cắm lên bát, rồi ngồi xuống chiếc phản gỗ, rót nước chè xanh.

"Bài ấy con bé hay hát cho mẹ nó. Hồi mẹ nó nằm viện tỉnh, tối nào nó cũng ngồi bóp chân cho mẹ, hát khe khẽ. Mẹ nó đau quá không ngủ được, nó hát thì ngủ được một lúc."

Ông nói chậm, giọng đều, như người đã kể chuyện này với chính mình nhiều lần.

"Tôi điếc nhạc cô ạ. Tôi chỉ nhớ cái chỗ cô vừa hát, cái chỗ nó cao lên ấy. Mẹ nó cứ bảo, con hát chỗ ấy nghe như người gọi đò."

Tôi hỏi bài ấy có tên không. Ông lắc đầu, bảo ông không biết, con bé tự hát thì ông nghe thế. Tôi hỏi tiếp, bác có biết thầy Khiêm cũng có một bài giống thế. Ông nhìn tôi, mắt đục.

"Thầy Khiêm là người bảo con tôi mê thầy." Ông đặt chén nước xuống, tay run. "Con tôi mười sáu tuổi. Mẹ nó mới mất. Nó mê ai được hả cô? Đi học về nó chỉ ngồi bên ban thờ mẹ, viết viết, ghi ghi. Rồi lại lên trường tập hát."

"Hôm ấy, hôm lên tỉnh về, em ấy có nói gì với bác không ạ?"

Ông Tư ngồi im rất lâu. Ngoài sân, gió sông thổi qua mấy tàu chuối, lào xào.

"Nó về muộn. Tôi đang nấu cơm. Nó ngồi ở bậc thềm, không vào. Tôi hỏi giải gì, nó không trả lời. Mãi sau nó nói một câu, tôi nhớ đến chết. Nó bảo: bố ơi, thầy bảo con có nói ra thì cũng chả ai tin con."

"Tin chuyện gì hả bác?"

"Tôi có biết đâu. Tôi tưởng nó bị thầy mắng vì không lên hát. Tôi còn bảo, thôi, không hát thì thôi, ăn cơm đi con." Giọng ông vỡ ra. "Tôi ngủ một mạch đến sáng. Sáng ra không thấy nó đâu. Đôi dép nhựa của nó để ở bậc đá bến Rùa, xếp ngay ngắn, như ngày thường nó vẫn xếp ở cửa lớp."

Tôi không dám hỏi thêm. Ông Tư đứng dậy, mở cái hòm gỗ dưới gầm phản, lục một lúc rồi lấy ra một cái cặp sách vải bạt đã mốc. Trong cặp có mấy quyển vở, một lọ dầu gió xanh đã cạn, và một cuộn băng cát-xét.

"Cặp của nó. Người ta vớt được nó, nhà trường trả cặp về. Tôi không mở bao giờ. Lọ dầu này của mẹ nó, nó cứ để trong cặp suốt."

Tôi cầm lọ dầu gió. Mùi bạc hà rất nhẹ vẫn còn. Đúng cái mùi đêm ấy, khi cô bé ghé sát tai tôi.

Tôi lật mấy quyển vở. Vở Toán, vở Văn, vở Sử. Không có quyển nào chép nhạc. Tôi hỏi ông em ấy có vở ghi nhạc không. Ông gật.

"Có. Một quyển bìa xanh, nó tự lấy thước kẻ dòng. Nó quý lắm, đi đâu cũng mang. Nhưng trong cặp không có. Tôi tìm khắp nhà rồi."

Ông đưa tôi cuộn băng cát-xét. Vỏ nhựa trong, đã ố. Trên nhãn giấy dán ở mặt băng, nét chữ học trò tròn trịa, mực xanh đã phai: "Cho mẹ. Giỗ đầu."

"Nhà tôi hỏng đài từ lâu. Mà có đài tôi cũng không dám nghe. Cô cầm đi. Cô nghe được gì thì cô nói lại cho tôi."

Ông tiễn tôi ra ngõ, rồi bảo để ông chỉ cho cô bến Rùa. Bến ở ngay sau nhà, chỉ là mấy bậc đá ong lở lói dẫn xuống mặt nước, cạnh một gốc gạo già. Nước sông chiều ấy đỏ quạch, chảy xiết, cuốn theo bèo và rác.

Tôi đứng ở bậc trên cùng. Ông Tư đứng sau tôi. Rồi tôi thấy ông lùi lại một bước, tay níu vào gốc gạo.

Trên những bậc đá ong khô cong vì nắng, có một hàng dấu chân ướt. Dấu chân nhỏ, của con gái, đi chân trần. Chúng đi từ mép nước lên, từng bậc một, qua chỗ tôi đứng, rồi hướng về phía con đê. Về phía trường.