Chương 7: Chiếc đài cát-xét
Khoảng 4 phút đọc·1lượt xem
Tôi không kể với ai về hàng dấu chân trên bến Rùa. Ông Tư cũng không nói gì. Lúc tôi dắt xe lên đê, ngoái lại, vẫn thấy ông đứng ở gốc gạo, nhìn xuống mặt nước.
Muốn nghe cuộn băng thì phải có đài. Điện thoại không đọc được băng cát-xét. Hàng điện tử ở chợ huyện bảo bây giờ chả ai bán đài băng nữa, cô lên phố Hải Dương may ra có đồ cũ. Sáng thứ Hai, tôi hỏi bác Lộc. Bác bảo bác có một cái, đài hiệu National, hồi trước dùng để nghe chèo, lâu rồi không bật.
Bác lục trong gầm giường phòng bảo vệ, lôi ra một cái đài màu bạc to bằng cái cặp lồng, quai xách đã gãy một bên. Bác lau bụi, cắm điện, bấm thử. Bánh xe quay rè rè. Bác gật gù, bảo vẫn chạy được.
Tôi chưa nói băng gì. Nhưng lúc tôi lấy cuộn băng ra khỏi túi để thử xem có vừa khay không, bác Lộc nhìn thấy nét chữ trên nhãn. Bác đứng sững.
"Cái này ở đâu ra hả cô?"
Tôi kể bác nghe tôi xuống nhà ông Tư. Bác Lộc ngồi xuống giường, hai tay đặt trên đầu gối, im một lúc lâu. Rồi bác kể, giọng nhỏ, như sợ có người ngoài nghe.
"Cái đêm người ta tìm con bé ấy, cả xóm cầm đuốc đi dọc bãi. Tôi ở lại trực trường. Gần sáng tôi đi tuần thì thấy phòng nhạc sáng đèn. Tôi lên. Thầy Khiêm đang ở trong ấy, lục cái tủ gỗ, lục ngăn kéo, giấy má vứt đầy sàn."
"Thầy tìm gì hả bác?"
"Thầy bảo tìm giáo án. Mà tay thầy cầm quyển vở bìa xanh, kẻ dòng tay, tôi nhìn thấy. Thấy tôi lên thì thầy giấu ra sau lưng." Bác Lộc vuốt mặt.
"Hôm sau thầy bảo tôi khiêng đàn đi, đem xuống kho dãy dưới. Khiêng đến chân cầu thang thì nó kêu. Không cắm điện mà nó kêu. Tôi bỏ đấy chạy. Chiều thầy lại bảo tôi khiêng lên chỗ cũ. Từ đấy tôi không động vào nó nữa."
Tôi hỏi bác có nói chuyện ấy với ai không. Bác lắc đầu.
"Tôi là thằng bảo vệ, cô ạ. Tôi nói thì ai nghe. Với lại, tôi cũng tưởng thầy đốt rồi."
Bác đưa cái đài cho tôi, dặn cầm cẩn thận kẻo rơi nắp pin.
Chiều hôm ấy thầy Khiêm cho gọi tôi. Trên bàn thầy có tờ chương trình lễ kỷ niệm đã in thử. Thầy cầm bút đỏ, gạch ngang dòng "Lời ru bên sông, đồng ca đội văn nghệ".
"Thầy bỏ tiết mục này. Em cho đội tập bài khác. Bài gì cũng được."
Tôi hỏi tại sao. Bài của thầy, giải Nhất của tỉnh, lẽ ra phải là tiết mục chính. Thầy không nhìn tôi, xếp mấy tờ giấy cho thẳng mép.
"Lễ của trường, không phải lễ của thầy. Mà em nữa." Thầy dừng lại, rồi nói rất chậm. "Em đang tập sự. Hợp đồng một năm. Cuối năm hội đồng xét. Thầy mong em tập trung chuyên môn, đừng để người ta đánh giá này nọ."
Thầy không nói thêm. Tôi cũng không hỏi. Tôi đứng dậy chào. Ra đến cửa, tôi nghe thầy gọi với theo.
"Hôm qua em đi đâu?"
Tôi quay lại. Thầy đang nhìn tôi. Tôi nói em về quê. Thầy gật, không tin, cũng không vặn.
Cuối giờ, tôi lên phòng nhạc lấy cái áo khoác bỏ quên từ đêm mất điện. Tôi định lấy rồi đi ngay. Tôi mở hai ổ khoá, bật đèn.
Tấm nhung đỏ vẫn phủ trên đàn. Nhưng ở giữa tấm nhung có một chỗ lõm xuống, ướt sẫm. Tôi kéo tấm nhung ra.
Phím Pha thăng không còn ở chỗ của nó. Ở đó chỉ còn một cái hốc đen, lòi ra cái lò xo nhỏ và mấy sợi dây điện mảnh. Phím đen nằm trên giá nhạc, đặt ngay ngắn, như ai đó cạy ra rồi để lên đấy cho tôi thấy. Chân phím gãy lởm chởm. Quanh nó là một vũng nước đục màu gạch, đã thấm vào gỗ giá nhạc thành một vết loang to bằng bàn tay.
Tôi cầm phím đàn lên. Nó lạnh như cục đá. Trên mặt phím có năm vết móng tay hằn sâu, song song, giống hệt năm đường trên nắp đàn.
Tôi bỏ phím đàn vào túi áo. Tôi không biết vì sao. Tôi chỉ nghĩ để nó lại đây thì thầy Khiêm sẽ cho người vứt đi mất.
Tối ấy tôi về phòng trọ, khoá cửa, cài then, đặt cái đài National lên bàn học. Tôi ngồi nhìn nó rất lâu. Ngoài kia trời mưa phùn, mưa lặng như rắc bụi. Tôi nhớ đến câu ông Tư nói: cô nghe được gì thì cô nói lại cho tôi.
Tôi lắp cuộn băng vào khay. Đóng nắp. Bấm nút.
Băng chạy rè rè chừng mười giây. Có tiếng sột soạt như người cầm micro xoay xở. Có tiếng gà gáy xa xa, tiếng ai đang quét sân. Rồi một tiếng hắng giọng rất khẽ, rất gần.
Và giọng cô bé. Không khàn như trong bản ghi của tôi. Trong veo, run run, của một đứa trẻ mười sáu tuổi đang cố không khóc.
"Mẹ ơi. Hôm nay giỗ đầu mẹ. Con viết xong bài hát cho mẹ rồi."