Chương 11: Trạm biên phòng
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Luồng sáng tắt bớt, chỉ còn chiếu xuống mặt nước cạnh thúng. Một chiếc ca nô sơn xanh lá cây áp sát vô, mũi ca nô cao hơn đầu tôi. Trên đó có ba người mặc quân phục, đội mũ cối. Một anh cúi người xuống, giọng Bắc đặc sệt.
"Các cháu ở đâu ra thế này? Có phải ba đứa ở Cẩm Thanh không?"
Tôi định trả lời mà miệng không mở ra được. Thư trả lời thay. Nó nói đúng tên ba đứa, tên xóm, tên ba má từng đứa, rõ ràng như đọc bài. Anh lính quay lại nói với người phía sau mấy câu vào cái máy bộ đàm. Tôi nghe được chữ "tìm thấy rồi", và nghe anh ta thở ra một hơi dài.
Ba anh lính kéo tụi tôi lên ca nô. Anh lớn tuổi nhất bế Tý lên trước, sờ trán nó, nhìn bàn chân quấn vải rồi chửi một câu rất nhỏ. Chiếc thúng chai của ba tôi được buộc dây kéo theo sau đuôi ca nô, nhấp nhô trong ánh đèn. Tôi ngồi ôm cái tù và, hai tay vẫn run không dừng được.
Anh lính giọng Bắc tên Thành, quê Thái Bình, đóng ở trạm biên phòng trên Cù Lao. Anh vừa lái ca nô vừa kể. Tối hôm trước, ba đứa không về, cả xóm Thanh Nhứt đổ ra bến. Ông Chín lật gối thì thấy một tờ giấy gấp tư, chữ con Thư viết rất nắn nót. Nếu tối nay con chưa về thì tụi con đi Cù Lao, ngoại đừng lo, con có la bàn.
Tôi quay qua nhìn Thư. Nó cúi mặt.
"Tao để phòng hờ," nó nói nhỏ. "Như gói diêm ba lớp."
Đồn biên phòng ở Cửa Đại nhận tin, báo ra trạm trên Cù Lao. Nhưng đêm qua giông còn quẩn ngoài khơi, ca nô không ra được. Từ sáng nay các anh chạy vòng quanh Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, rồi vòng xuống phía nam, tìm mãi không thấy. Tối nay các anh định quay về thì nghe tiếng tù và.
"Đêm biển lặng, tiếng ấy đi xa lắm," anh Thành nói. "Mới đầu anh tưởng ghe nào gọi nhau. Nghe ba hồi dài thì biết là có người cần cứu."
Tý nằm trên đùi anh lính lớn tuổi, mở mắt ra nhìn tôi. Nó không nói gì, chỉ giơ ngón tay cái lên một cái rồi nhắm mắt lại.
Trạm biên phòng nằm trên một con dốc ở Bãi Làng, mái ngói đỏ, có cột cờ với cây đèn sáng. Anh y sĩ của trạm rửa chân cho Tý bằng nước ấm pha muối, gắp những cái gai còn sót lại bằng một cái kẹp inốc sáng loáng, rồi tiêm cho nó một mũi. Anh khen ai đập gai với hơ chân cho nó làm đúng, không thì đã nhiễm trùng nặng. Tý chỉ tay về phía Thư. Thư chỉ tay về phía Tý.
Một anh bộ đội nấu cho ba đứa một nồi cháo trắng với trứng vịt muối. Tôi ăn ba chén, Thư ăn hai chén, Tý ngồi dựa tường ăn được một chén rưỡi. Ăn xong, Thư mới nhớ ra. Nó lôi cuốn vở ướt trong túi vải, mở tới trang có dấu ngón tay cái, đưa cho anh Thành.
"Chú ơi. Ghe này xịt thuốc bắt tôm hùm ở hòn đảo nhỏ phía nam. Hồi tối hôm qua. Bốn người."
Anh Thành cầm cuốn vở, nhìn dãy số viết mò, xiêu vẹo nhưng đọc được. Tôi với Tý đọc lại dãy số đó từ trí nhớ, khớp từng con. Tôi kể thêm cái giọng lè nhè của gã hút thuốc, chuyện mười ký tôm, chuyện mối dưới Đà Nẵng. Mặt anh Thành mỗi lúc một nghiêm lại. Anh cầm máy bộ đàm đi ra ngoài hiên, nói rất lâu.
Sáng hôm sau, tôi thức dậy trên một cái giường sắt trong phòng trực, chăn quân đội đắp tới cằm. Anh Thành đứng ở cửa, cười tươi rói.
"Bắt được rồi. Sáng sớm nay, ở cửa biển Đại. Mười lăm ký tôm hùm còn sống, ba can thuốc. Biển số khớp đúng từng con một."
Tôi nhảy xuống giường, quên mất hai bàn tay phồng rộp. Tôi la lên một tiếng, rồi rút ngay tay về vì đau, rồi lại la lên.
Gần trưa, có tiếng máy ghe quen thuộc ngoài bến Bãi Làng. Chiếc ghe gỗ sơn xanh tróc, mắt ghe vẽ đỏ, cập vô cầu đá. Ghe Liên Hương. Ông Chín đứng ở mũi. Phía sau là ba tôi và chú Bảy, mắt đỏ kè như ba người chưa ngủ hai đêm.
Chú Bảy nhảy xuống trước, chạy thẳng vô phòng y tế ôm thằng Tý. Thằng Tý khóc. Lần đầu tiên tôi thấy nó khóc.
Ba tôi đi tới trước mặt tôi. Ông giơ tay lên. Tôi nhắm mắt chờ một cái tát. Nhưng ông kéo tôi vô ngực, ghì chặt tới mức tôi không thở được. Người ông có mùi dầu rái, mùi khói thuốc rê, mùi mồ hôi hai ngày. Ông giữ vậy rất lâu, rồi mới đẩy tôi ra, cốc lên đầu tôi một cái đau điếng.
Rồi ông đi ra cầu đá, nơi chiếc thúng chai đang được kéo lên. Ông lật thúng lại, ngồi xổm xuống nhìn chỗ vá. Ông sờ mấy cái nút dây gai, lấy ngón tay cái miết lên lớp chai.
"Đứa mô trét?"
"Con," tôi nói.
Ba tôi im lặng một lúc. Rồi ông đứng dậy, phủi tay.
"Trét dày quá. Phí chai."
Ông quay mặt đi, nhưng tôi kịp thấy khóe miệng ông nhếch lên. Cả đời tôi, đó là lời khen lớn nhất ba tôi từng nói.
Ông Chín đứng trước Thư. Con nhỏ cúi gằm mặt, hai tay vặn vạt áo rách. Ông hỏi nó, giọng khàn mà rất nhẹ, ra đây làm chi. Thư không trả lời được. Tôi bước lên, mở cuốn vở của nó ra, lật tới tờ giấy can kẹp ở giữa, giờ đã nhòe, nhưng vẫn còn thấy rõ dấu nhân, hai chữ cái, và cái hình con tôm hùm.
Ông Chín nhìn tờ giấy rất lâu. Rồi ông bật cười, cười tới mức phải vịn vô vai tôi. Cười mà nước mắt chảy dài xuống mấy nếp nhăn.
"Tụi bây tưởng chỗ ni có tôm hùm hả?"