Chương 3: Ổ tôm của ông Chín
Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem
Quán nước bà Hường nằm ở ngã ba đầu xóm, dưới gốc cây bàng to, là nơi mọi tin tức của xã Cẩm Thanh được sinh ra, nuôi lớn và thêm thắt. Sáng đó ba sai tôi ra mua cây nước đá. Trong lúc bà Hường đập đá, tôi ngồi chồm hổm cạnh mấy ông già đang uống trà, và nghe được câu chuyện làm thay đổi cả mùa hè của tôi.
"Ông Chín mà chịu nói chỗ nớ ra thì trả nợ một lần là xong," ông Ba Râu nói, gõ cái điếu cày xuống chân bàn.
"Chỗ mô?" ông Tư Lùn hỏi.
"Ổ tôm hùm ngoài Cù Lao chớ chỗ mô. Hồi tụi mình còn trai, năm nào tới mùa này hắn cũng lén chèo thúng ra một mình. Đi một đêm, về là cười tủm tỉm cả tuần. Hỏi chi cũng không nói. Có bữa tau thấy hắn ngồi coi một cái bản đồ vẽ tay, thấy tau là hắn gấp lại liền."
"Rứa răng hắn không bán tôm cho vựa?"
"Thì hắn khôn. Lấy ít ít, ăn dần. Ổ tôm mà lộ ra thì cả làng xúm vô, còn chi."
Mấy ông gật gù, rót thêm trà. Ông Tư Lùn nói giờ tôm hùm ngoài vựa giá ba trăm ngàn một ký. Tôi xách cây nước đá về, nước đá chảy ướt hết ống quần mà tôi không hay. Trong đầu tôi chỉ có một phép tính. Bốn triệu tám trăm ngàn chia cho ba trăm ngàn. Tôi tính sai ba lần, lần thứ tư ra mười sáu.
Mười sáu ký tôm hùm. Một ổ tôm hùm, theo tôi nghĩ, ít nhất cũng phải hai chục ký.
Trưa đó tôi lôi Tý ra sau rặng dừa nước, kể cho nó nghe bằng giọng của một thằng vừa tìm ra kho báu. Tôi nói nhanh tới mức líu lưỡi. Tý nghe hết, cắn một cọng cỏ, nghĩ rất lâu.
"Bản đồ nằm trong nhà ông Chín," nó nói.
"Thì?"
"Thì phải có con Thư."
Tôi biết nó đúng, và đó là điều tệ nhất trong ngày.
Chiều đó tôi phải mất nửa tiếng đứng dưới mũi ghe Liên Hương mới mở miệng được. Thư nghe tôi kể, mặt không đổi, tay vẫn kẹp ngón tay vào trang sách để đánh dấu chỗ đang đọc. Tới đoạn mười sáu ký tôm hùm thì nó đẩy kính lên.
"Mấy ông già ngồi quán nói chi mày cũng tin hả?"
"Không tin thì mi giải thích coi, răng năm mô ông mi cũng ra Cù Lao một mình?"
Thư im. Nó nhìn qua cái hộp thiếc xanh dựng trong khoang ghe, rồi nhìn lên nhà, nơi ông Chín đang ngủ trưa trên võng, tiếng ngáy đều đều qua vách liếp. Tôi thấy rõ trong mắt nó có cái gì đó lung lay.
"Coi thôi," nó nói. "Coi rồi để lại. Tụi mày mà đụng bậy là tao méc ngoại."
Ba đứa chui xuống khoang ghe. Trong đó mùi cá khô, mùi dầu máy, mùi lưới mục. Thư mở nắp hộp thiếc rất nhẹ. Bên trong có một xấp giấy tờ nhà, một cái tẩu thuốc gãy, một tấm ảnh đen trắng úp mặt, và tờ giấy gấp làm tư tôi thấy tối hôm trước.
Tờ giấy là loại giấy dầu vàng, vẽ bằng mực tím đã nhạt. Ở giữa là một hòn đảo lớn hình con cá nằm nghiêng, chung quanh có mấy hòn nhỏ, có ghi tên từng bãi bằng nét chữ nghiêng nghiêng. Ở phía bắc hòn lớn, sát mép nước, có một dấu nhân đánh rất đậm. Cạnh dấu nhân có hai chữ cái viết hoa, chữ L với chữ C, và dòng chữ nhỏ ghi rằm tháng Sáu. Bên dưới là một hình vẽ nguệch ngoạc, một cái thân tròn tròn với mấy nét cong dài ngoằng tỏa ra.
"Tôm hùm," tôi thì thầm. "Râu nó đó. Thấy chưa."
"Còn chữ L với chữ C?" Thư hỏi.
Tôi nghĩ một giây. "Lắm Cua."
Tý phải lấy tay bịt miệng. Thư lườm tôi, nhưng khóe miệng nó giật giật, nó phải cắn môi mới giữ được cái mặt nghiêm.
Rồi nó dí sát mắt kính vô tờ giấy, chỉ cái dấu nhân. "Tao đọc sách thấy tôm hùm sống trong hang đá dưới rạn san hô. Cái dấu này đánh trên bãi cát mà."
"Ban đêm tôm bò lên," tôi nói ngay.
"Tôm hùm không bò lên cát," Tý nói, rất nhỏ, nhưng rất chắc.
Tôi lờ đi. Thư lật tấm ảnh đen trắng lên coi. Trong ảnh là một thanh niên gầy, tóc chải bóng, đứng cạnh một cô gái mặc áo bà ba, tóc bới cao. Sau lưng họ là một tảng đá lớn trồi lên khỏi cát, hình thù giống cái đầu con rùa đang ngóc lên. Thư nhìn tấm ảnh lâu hơn nhìn bản đồ. Nó nói đó là ngoại với bà ngoại, hồi chưa có má nó.
Thư lấy cuốn vở trong cặp ra, xé một tờ giấy pơ-luya mỏng, đặt lên tấm bản đồ, can lại từng nét bằng bút chì. Nó làm rất cẩn thận, can cả tên mấy bãi, cả dấu nhân, cả cái hình tôi gọi là tôm hùm. Xong nó gấp tờ giấy can bỏ vô túi áo, xếp tấm bản đồ thật y như cũ, đặt tấm ảnh úp mặt lên trên.
"Mày tính làm gì?" Tý hỏi nó. Lần thứ hai nó tự hỏi con nhỏ.
Thư nhìn ra cửa khoang, ngoài đó là con sông, xa hơn là cửa biển, xa hơn nữa là một vệt xanh mờ nằm ngang chân trời mà người Cẩm Thanh gọi là Cù Lao.
"Tao đi," nó nói. "Nhưng tụi mày phải nghe tao. Tao cầm bản đồ, tao cầm la bàn."
Tôi chưa kịp cãi thì sàn ghe trên đầu kêu cót két. Có tiếng chân trần bước xuống từ bậc thềm, tiếng ho khan quen thuộc, rồi giọng ông Chín khàn khàn vang lên ngay trên miệng khoang.
"Đứa mô dưới đó? Đứa mô lục hộp của tau?"