Truyện Ma Có Thật
← Chiếc thúng chai ra Cù Lao

Chương 4: Bịch cứu mạng

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Thư phản ứng nhanh hơn hai thằng con trai cộng lại. Nó đẩy cái hộp thiếc về chỗ cũ, ló đầu lên miệng khoang, giọng tỉnh bơ.

"Con đây ngoại. Con xuống kiếm cuộn chỉ vá lưới cho ngoại."

Ông Chín đứng trên mạn ghe, tay che nắng, mắt nhắm mắt mở vì mới ngủ dậy. Ông nhìn Thư, nhìn hai cái đầu đen thui đang thụt xuống sau lưng nó.

"Chỉ nằm trong rổ trên nhà, xuống khoang chi cho bẩn. Hai thằng nớ là đứa mô?"

"Thằng Lộc con chú Sáu thúng với thằng Tý con chú Bảy," Thư nói. "Tụi nó phụ con kiếm."

Ông Chín ừ một tiếng, quay vô nhà. Ông không hỏi gì về cái hộp. Về sau tôi mới biết ông đã thấy nắp hộp lệch một chút, nhưng ông nghĩ con nít tò mò thì cũng như con mèo tò mò, rồi cũng chán.

Tối đó ba đứa họp ở dưới rặng dừa nước. Tôi đem theo một cây đèn dầu nhỏ, Thư đem theo cuốn vở có kẻ ô, Tý đem theo cái mặt nghiêm trọng của nó. Thư mở cuốn vở, trang đầu đã ghi sẵn chữ "Kế hoạch" gạch chân hai lần.

Thư bắt đầu bằng khoảng cách. Nó đọc trong cuốn địa lý rằng từ Cửa Đại ra Cù Lao Chàm chừng mười lăm cây số. Tý nói ghe máy của ba nó chạy mất một tiếng. Tôi tính, thúng chèo chậm hơn ghe máy chừng năm lần, vậy là năm tiếng, cộng thêm một tiếng cho chắc thì sáu tiếng.

"Đi sáu tiếng, bắt tôm một tiếng, về sáu tiếng," tôi nói. "Đi từ bốn giờ sáng thì chạng vạng là về tới. Nói với nhà là đi tắm biển Cửa Đại cả ngày."

"Mày chèo thúng được sáu tiếng không nghỉ?" Thư hỏi.

"Tau chèo được mười tiếng."

Tý không nói gì, chỉ nhìn tôi. Tôi sửa lại thành tám tiếng, rồi thành ba đứa thay phiên. Thư ghi hết vô vở.

Thúng thì lấy chiếc thúng chai lớn nhất của ba tôi. Đó là chiếc thúng cũ ba từng ngồi đi lưới hồi trẻ, đường kính gần hai mét, ba đứa ngồi vẫn rộng. Giờ ba không dùng nữa, úp dưới gốc dừa sau nhà, lâu lâu trét lại một lần cho khỏi mục. Mái chèo có hai cây, một dài một ngắn.

Thư đọc to danh sách đồ đem theo, giọng như cô giáo điểm bài.

Một can nhựa nước mưa năm lít, sáu nắm cơm với một hũ muối mè, một cây đèn pin, một hộp diêm, hai cái áo mưa. Cuốn sách về các vì sao, cái la bàn, bút chì, cuốn vở. Cái bao tải để đựng tôm, cái này tôi đòi thêm vô.

"Diêm thì gói kỹ," Thư nói. "Ba lớp bọc ni lông. Thun cột hai đầu."

"Ba lớp chi mà nhiều rứa? Mi đi biển hay đi cưới?" tôi nói.

"Mày cứ để tao gói."

Tý giơ tay lên như trong lớp học. Nó nói nó sẽ đem cái đài cục gạch của ba nó để nghe bản tin thời tiết, với cái tù và. Thư ghi thêm hai dòng. Tôi để ý con nhỏ nhìn cái tù và trong tay Tý lâu hơn mức cần thiết.

Hai ngày sau là ngày đi. Chiều hôm trước, tôi lẻn ra sau nhà, lật chiếc thúng lớn lên kiểm tra. Dưới tấm ván ngồi vẫn còn cột cái bịch cứu mạng, bọc trong mảnh ni lông đã bạc màu. Tôi mở ra ngửi thử, cái mùi dầu rái trộn phân trâu xộc lên mũi làm tôi lùi lại ba bước. Tôi đã cầm con dao định cắt bịch đó vứt đi, cho nhẹ thúng, cho đỡ hôi.

Thư đứng ở hàng rào bên kia, không biết đã ở đó từ lúc nào.

"Cái gì vậy?"

"Bịch cứu mạng của ba tau. Hôi muốn chết."

"Vậy thì để lại," Thư nói. "Cái gì người lớn đặt tên là cứu mạng thì đừng có vứt."

Tôi cột lại bịch cũ, thêm một nút cho chắc. Rồi tôi lén múc một lon sữa bò đầy dầu rái trong nồi của ba, đậy nắp bằng lá chuối. Tôi không biết vì sao mình làm vậy. Có lẽ vì bị con nhỏ nói trúng.

Đêm đó tôi không ngủ được. Ba tôi ngáy ở gian ngoài, má trở mình mấy lần trên giường tre. Tôi nằm nghĩ tới mười sáu ký tôm hùm, tới chiếc ghe Liên Hương còn nguyên trên bến, tới cái mặt con nhỏ bốn mắt khi phải nói một câu cảm ơn tôi. Chắc tôi thiếp đi được chừng một tiếng thì nghe tiếng huýt sáo khe khẽ ngoài vách liếp, hai ngắn một dài. Là Tý.

Ba đứa khiêng chiếc thúng ra bến trong bóng tối. Thúng nặng hơn tôi tưởng, tôi suýt té hai lần vì vấp rễ dừa. Thư ôm cái túi vải lớn đựng đồ, tay kia cầm đèn pin chiếu xuống chân, không dám chiếu lên cao. Tý ôm can nước và cái đài, cái tù và đeo lủng lẳng trên cổ bằng sợi dây gai.

Thúng vừa chạm nước thì từ phía thượng nguồn có tiếng máy ghe nổ lạch xạch. Một chiếc ghe đánh đêm về muộn, đèn treo mũi đung đưa, đang chạy thẳng về phía bến.

"Núp!" Tý rít lên.

Ba đứa nhào xuống, kéo thúng lùi vô bụi dừa nước. Lá dừa cứa vô tay tôi rát rạt. Chiếc ghe chạy ngang qua chỉ cách chừng mười mét. Tôi nhận ra giọng người đàn ông ngồi ở lái đang hát nghêu ngao một câu vọng cổ. Đó là chú Bảy, ba của thằng Tý.

Tý nằm sát tôi, người cứng đơ, không thở. Ghe chú Bảy chạy chậm lại ngay trước mặt tụi tôi. Ánh đèn mũi ghe quét qua bụi dừa nước một vòng, chậm rãi, như đang tìm cái gì đó.