Truyện Ma Có Thật
← Chiếc thúng chai ra Cù Lao

Chương 7: Đêm trên bãi vắng

Khoảng 5 phút đọc·1lượt xem

Việc đầu tiên là lửa. Tý nói ba nó dạy đạp nhum thì phải hơ chân cho nóng, rồi lấy đá đập nhẹ cho gai vỡ vụn trong thịt, gai nhum gặp nóng tự tan dần. Không có lửa thì đêm nay chân nó sưng tới đầu gối. Tôi chạy dọc bãi lượm củi. Củi nào cũng ướt sũng sau trận mưa, bẻ ra nghe nhũn như bánh tráng nhúng nước.

Mãi tới khi trời gần tối hẳn, tôi mới tìm được một cái hốc đá khô dưới vách núi. Bên trong có một ổ rác biển dạt vô từ mùa nào, cành cây khô, vỏ dừa, rơm rác, khô cong vì nằm khuất mưa. Tôi ôm về một đống, vấp té hai lần, cằm trầy một vệt.

Rồi tới lượt hộp diêm. Thư lấy ra từ đáy túi vải một cục ni lông tròn như cái bánh ít. Nó cởi thun cột đầu thứ nhất, bóc lớp ni lông thứ nhất, ướt. Lớp thứ hai, ướt lấm tấm. Lớp thứ ba khô ráo. Hộp diêm bên trong khô như mới mua ngoài chợ.

Thư không nói câu nào. Nó chỉ cầm hộp diêm giơ lên, ngay trước mặt tôi, để yên đó chừng ba giây.

"Rồi rồi," tôi nói. "Mi đi biển. Không phải đi cưới."

Tý bật cười. Tiếng cười của nó khàn khàn vì đau, nhưng là tiếng cười thật, lần đầu tiên tôi nghe nó cười thành tiếng trước mặt con nhỏ.

Lửa bắt lên từ que diêm thứ hai. Tý ngồi hơ bàn chân trên ngọn lửa, gần tới mức tôi tưởng chân nó sắp chín. Thư lấy hai que tre nhỏ chẻ từ một nan thúng gãy, gắp từng cái gai còn thò đầu ra ngoài. Tay nó run, nhưng nó gắp rất kỹ, đẩy kính lên mũi mỗi lần cúi xuống. Mấy cái gai gãy lút trong thịt thì Tý tự cầm hòn sỏi đập nhẹ lên gan bàn chân, cắn răng không kêu.

Xong, Thư xé vạt áo thun trắng in hình con mèo của nó thành một dải dài, quấn quanh bàn chân Tý. Con mèo bị xé mất nửa cái đầu.

"Áo mi," Tý nói.

"Áo ở Đà Nẵng tao còn nhiều."

Ba đứa ngồi quanh đống lửa, chia nhau hai nắm cơm nhão cuối cùng. Biển đêm đã lặng hẳn. Trên đầu, mây trôi đi hết, để lại một bầu trời đầy sao mà tôi chưa từng thấy ở Cẩm Thanh. Ở đây không có ánh đèn dầu nhà ai, không có khói bếp, sao xuống thấp tới mức tưởng giơ tay lên là chạm.

Thư ngửa cổ nhìn trời rất lâu. Rồi nó đứng dậy, đi ra xa đống lửa vài bước, chỉ tay lên.

"Kia. Cái gáo. Bắc Đẩu đó."

Tôi nhìn theo tay nó. Lần này tôi thấy thật. Bảy ngôi sao xếp thành cái gáo múc nước, cán gáo cong cong. Thư lấy ngón tay ước chừng khoảng cách giữa hai ngôi đầu gáo, rồi kéo ra năm lần. Ở đó có một ngôi sao không sáng lắm, đứng một mình, nằm thấp gần sát mặt biển.

"Sao Bắc Cực," nó nói. "Bên kia là hướng bắc."

Rồi nó im. Tôi thấy nó cúi xuống cái la bàn trên cổ, rồi ngẩng lên ngôi sao, rồi cúi xuống la bàn. Nó đi lại chỗ cái túi vải đặt cạnh đống lửa, cầm la bàn để sát vô cái đài cục gạch. Cái kim đỏ xoay ngoắt đi, chỉ thẳng vô cái đài. Nó nhấc la bàn ra xa, chừng hai sải tay. Cái kim lắc lư một hồi rồi đứng lại, chỉ đúng về phía ngôi sao Bắc Cực.

"Cái loa," Thư nói, giọng như mất hơi. "Trong loa đài có nam châm. Sách có ghi. Tao đọc rồi mà tao quên."

Nó ngồi phịch xuống cát. Lần đầu tiên tôi thấy Thư khóc mà không giấu. Nó khóc nấc lên, hai vai rung, nước mắt chảy xuống dưới cặp kính.

"Tại tao. Cả buổi sáng tao để la bàn sát cái đài. Tao dẫn tụi mày đi lạc. Tao còn nói tụi mày phải nghe tao."

Tôi đã có cả một kho câu để trả thù cho những lần bị gọi là nhà quê. Câu nào cũng sẵn trên đầu lưỡi. Nhưng tôi ngồi xuống cạnh nó, cách một gang tay, nhìn đống lửa.

"Không phải tại mi," tôi nói. "Tại tau. Tau nghe mấy ông già nói một câu rồi tau tính ra mười sáu ký tôm hùm. Tau chưa thấy con tôm hùm sống bao giờ."

Thư quay qua nhìn tôi.

"Tau cũng không có bơi qua sông Thu Bồn một hơi," tôi nói tiếp. "Tau bơi tới giữa là tau quay về. Ba tau cũng không có đan thúng cho vua Bảo Đại. Vua chưa bao giờ tới Cẩm Thanh."

Tý ngồi bên kia đống lửa, bỗng nói một câu rất nhỏ. "Tau biết."

Thư phì cười giữa lúc đang khóc, nước mũi phọt ra một bong bóng. Nó lấy tay áo quẹt mũi, cười thêm một hồi nữa, rồi mới kể. Ba má nó ở Đà Nẵng cãi nhau suốt mùa xuân, rồi ký giấy. Nhà ở Đà Nẵng sắp bán. Không ai hỏi nó muốn ở với ai, người ta cứ gửi nó về đây như gửi một cái va li. Nó kể, mỗi sáng thấy ngoại ra ngồi trên ghe Liên Hương, nó nghĩ ít ra trên đời còn một thứ chưa bị bán.

"Cho nên tao đi," nó nói. "Tao biết là ngu. Mà tao đi."

Không ai nói gì nữa. Lửa nổ lách tách. Tý nằm xuống cát, chân gác lên tảng đá cho đỡ nhức. Thư ngồi bó gối, cái la bàn nắm chặt trong tay. Tôi nhìn lên ngôi sao đứng một mình, cố nhớ cho kỹ chỗ của nó.

Rồi tôi nghe một âm thanh không phải tiếng sóng. Một tiếng máy nổ rất trầm, đều đều, từ phía mỏm đá đầu bãi vọng tới. Tý ngồi bật dậy. Một chiếc ghe máy cỡ vừa đang từ từ quẹo vô vũng nước sau mỏm đá, ngay cạnh bãi tụi tôi. Trên ghe không thắp một ngọn đèn nào.