Chương 7: Hỏi người cũ
Khoảng 5 phút đọc·6lượt xem
Ông Tuyên bảo tôi, muốn biết chuyện ông Khảm thì tìm ông Cường. Ông Cường làm bảo vệ cổng trước, hưu năm 1990, ở xóm Cầu Bố, phường Đông Vệ, cùng khoá với ông Khảm từ hồi bệnh viện còn sơ tán. Hai ông uống rượu với nhau ba mươi năm.
Chủ nhật tôi đạp xe đến. Nhà ông Cường là nhà ngói ba gian, sân gạch, có giàn mướp đã tàn. Ông ngồi ở hè, người to, da đỏ, giọng còn vang. Tôi nói tôi là người thay ông Khảm. Ông nhìn tôi từ đầu đến chân, rồi bảo vào.
"Thằng Khảm nó về quê, tao biết. Tao bảo nó ra đây ở với tao, nhà rộng, nó không nghe. Nó về Nga Phú rồi hả? Nó có nhắn gì tao không?"
Tôi nói ông ấy không nhắn. Ông Cường rót rượu ra hai chén, đẩy một chén về phía tôi.
"Nó không có ai ở đấy đâu. Năm bảy hai nó đang ở Hàm Rồng thì tàu Mỹ bắn vào Nga Sơn, cả nhà nó, bố mẹ, vợ, hai đứa con, chết một lượt trong một cái hầm. Nó về chôn xong, quay lại bệnh viện làm tiếp, từ đấy không về nữa. Nga Phú với nó chỉ còn mấy cái mộ. Nó không có chỗ nào để về cả."
Ông uống. Tôi không uống.
* * *
Tôi hỏi ông về cánh cửa hé.
Ông Cường cười, tiếng cười ngắn, rồi tắt.
"Cái ấy thằng Khảm học ông Tư, người làm trước nó. Ông Tư bảo, người mới chết sợ nhất là cửa đóng. Đóng thì họ tưởng mình bị nhốt, họ quẩn trong nhà, họ không đi được. Hé ra một bàn tay, đủ để họ biết còn đường. Thằng Khảm làm theo hai mươi mấy năm. Tao bảo nó mê tín. Nó bảo, tao ở với người chết nhiều hơn người sống, tao biết họ cần gì."
Tôi hỏi, thế người sống thì cần gì. Ông Cường nhìn tôi.
"Nó cần cái ghế đá ấy. Tối nào nó cũng ngồi đấy hút thuốc, bảo ngồi đấy thì trong nhà ai gọi cũng nghe. Tao bảo ai gọi, nó bảo thì họ."
Tôi hỏi ông về gian trong.
Ông nhớ ngay. Năm tám chín máy lạnh hỏng, bệnh viện không có tiền sửa, bỏ không. Trong gian ấy còn cái giá sắt ba tầng để xác hồi máy còn chạy, mỗi tầng vừa một người nằm.
"Mùa hè thằng Khảm hay vào đấy ngủ trưa, nằm tầng dưới cùng, bảo mát. Tao bảo mày điên, nằm chỗ người chết nằm. Nó bảo, chỗ ấy yên, tao nằm quen rồi, sau này có gì cũng đỡ lạ."
Ông Cường dừng lại ở câu ấy. Tay ông cầm chén rượu không đưa lên. Tôi thấy ông nghĩ về điều ông vừa nói, và tôi thấy ông không thích điều đó.
"Nó nói đùa thôi. Thằng ấy hay nói đùa kiểu đấy."
* * *
Tôi hỏi ông về bệnh ho.
"Ho hai năm nay. Tao bắt nó đi khám, nó không khám. Nó bảo khám ra bệnh thì người ta bắt nghỉ, nghỉ thì nó ở đâu. Hồi tháng Bảy tao thấy nó gầy quá, tao làm căng, nó mới chịu làm hồ sơ hưu. Tao bảo hưu thì ra đây ở với tao. Nó ừ. Rồi nó về quê."
Ông Cường đặt chén xuống.
"Mày lên đây hỏi tao những chuyện này làm gì? Nó có chuyện gì à?"
Tôi không biết trả lời thế nào. Tôi kể chuyện lá thư trả lại. Ông Cường nghe xong ngồi im, mặt đỏ của ông xám đi một chút.
"Xã không có hộ thì đúng rồi, nó bỏ đi từ năm bảy hai. Nhưng người thì phải ở đâu đó chứ."
Tôi nói, cháu cũng nghĩ thế. Tôi không kể chuyện ghế đá. Tôi không kể chuyện bàn tay trên cửa. Tôi nhìn ông già ba mươi năm uống rượu với bạn, và tôi không nói được.
Lúc tôi về, ông Cường vào nhà lấy ra một chai rượu nút lá chuối, đưa tôi.
"Rượu Cầu Bố, nó thích. Bao giờ nó ra, mày đưa nó, bảo tao gửi. Bảo nó ra đây uống với tao. Bảo tao già rồi, không đợi được lâu."
Tôi cầm chai rượu. Tôi nói vâng. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi hứa một việc mà biết chắc mình không làm được theo cách người ta nghĩ.
* * *
Về đến nhà xác thì chiều đã tắt. Tôi đặt chai rượu lên bệ cửa sổ, cạnh bao Bông Sen, cạnh miếng vỏ bao gấp vuông. Tôi rót một chén, để đấy. Tôi nghĩ, gửi thì gửi.
Đêm ấy tôi để cửa hé. Tôi ngồi chờ như mọi đêm, nhưng đêm ấy tôi chờ với một tâm trạng khác. Tôi đã biết người ấy là ai. Biết ông không có nhà để về. Biết ông từng nằm ngủ trưa ở tầng dưới cùng cái giá sắt trong gian trong, bảo chỗ ấy yên.
Ghế đá kẹt lúc gần hai giờ.
Mùi thuốc vào. Tôi ngồi nghe hết điếu thuốc. Rồi ghế kẹt tiếng nữa. Rồi một tiếng tôi chưa từng nghe, tiếng bước chân trên hiên gạch, chậm, lê dép. Bước đến sát cửa. Dừng ở khe hở.
Tôi ngồi im. Qua khe cửa, ánh đèn tròn hắt vào bị chắn mất một vệt, dài và gầy.
Không ai nói. Vệt bóng đứng đó độ bằng thời gian châm một điếu thuốc. Rồi nó lùi ra. Ánh đèn lại lọt vào đủ.
Sáng, bao thuốc còn mười tám. Chén rượu trên bệ cửa sổ cạn, đáy chén khô, như rượu đã được uống từ lâu chứ không phải bay hơi. Chai rượu nút lá chuối vẫn nguyên.
Và cái khăn tay vải phin không còn ở ngưỡng cửa gian trong nữa. Tôi tìm khắp gian ngoài. Không thấy. Tôi nghĩ ông đã đem nó vào trong với ông, vì ông cần nó hơn tôi.