☾ Truyện Ma Có Thật
← Cửa hé một bàn tay

Chương 8: Ngồi cùng ghế đá

Khoảng 5 phút đọc·6lượt xem

Sau đợt gió mùa đầu, trời hửng lại. Giữa tháng Mười nắng hanh, ban ngày nóng khô, đêm se. Lá bàng ngả đỏ từng chiếc. Và mùi ở gian ngoài đổi.

Mùi thứ ba mà hôm bàn giao tôi không gọi được tên, giờ tôi gọi được. Lính biên giới ai cũng gọi được, chỉ không ai muốn gọi. Nó ngọt, lợ, bám vào cổ họng. Ban ngày nắng hun mái ngói, mùi ấy dâng lên từ khe dưới cửa gian trong, đặc đến mức tôi phải mở toang cửa chính cả ngày. Nhặng quay lại, nhiều hơn.

Cô Hạnh xuống đưa xác, nhăn mặt ngay ở cửa.

"Chuột chết à anh? Mùi này không phải chuột đâu."

Tôi bảo chắc chó mèo chui vào kho qua lỗ thông hơi. Cô nhìn cánh cửa sơn xanh, rồi nhìn tôi, rồi không nói nữa.

* * *

Buổi trưa, lúc không ai quanh đấy, tôi nằm sấp xuống nền xi măng trước cửa gian trong, ghé mắt vào khe dưới cánh cửa.

Tối. Khe hẹp quá, chỉ thấy một vệt đen. Tôi quẹt một que diêm Thống Nhất, đợi lửa bén đều, rồi đẩy nó qua khe vào trong.

Que diêm lăn vào độ một gang tay rồi nằm im, cháy. Trong ánh lửa bằng hạt đậu, tôi thấy nền gian trong. Nền xi măng, cùng màu với gian ngoài. Nhưng ướt. Có một vệt sẫm loang từ phía trong ra gần cửa, bóng lên trong ánh lửa, như nước. Không phải nước, vì nước trong gian kín sáu năm thì phải khô từ lâu.

Que diêm cháy đến gốc rồi tắt. Tôi nằm đó, mặt áp xuống xi măng lạnh, ngửi mùi ấy ngay trước mũi.

Tôi lên gặp chú Lợi lần thứ ba. Tôi nói, chú cho cháu phá khoá gian trong, cháu chịu trách nhiệm. Chú cáu.

"Mày làm sao thế? Cái kho ấy từ hồi ông Khảm đã bảo không mở, ông ấy giữ chìa, giờ ông ấy đi rồi, muốn mở phải lập biên bản, kiểm kê tài sản, mời phòng vật tư. Tao đang dồn việc cuối năm. Để qua tháng."

Tôi về. Tôi hiểu một điều về người sống. Một cánh cửa đóng sáu năm thì không ai muốn là người đầu tiên mở nó.

* * *

Đêm ấy tôi quyết định ra ngồi ghế đá.

Tôi để cửa hé một bàn tay như mọi khi. Tôi cầm bao Bông Sen trên bệ cửa sổ, cầm cả chai rượu Cầu Bố, ra hiên. Tôi ngồi xuống đầu bên phải của ghế, chỗ ông già tóc bạc đã ngồi hôm bốn xác. Tôi đặt bao thuốc lên mặt đá, ở khoảng trống bên trái.

Trời không trăng. Đèn tròn ở cột soi một vòng vàng xuống hiên, ngoài vòng ấy là vườn bạch đàn đen. Tôi ngồi chờ, lưng quay về cửa, không quay lại.

Quá một giờ, tôi nghe tiếng từ trong nhà.

Không phải tiếng ghế. Ghế thì tôi đang ngồi. Tiếng từ sau cánh cửa hé, tiếng dép lê trên xi măng, từ cuối gian ngoài đi ra. Chậm. Mười hai bước. Tôi đếm, như hôm nào tôi đếm bước mình đi vào.

Tiếng dép dừng ở cửa. Tôi nghe cánh cửa ván khẽ kẹt, không mở thêm, chỉ rung một chút như có người lách qua khe. Rồi tiếng dép trên gạch hiên, sau lưng tôi, vòng sang bên trái.

Ghế đá kẹt. Mặt đá nghiêng về bên trái. Một bên vai tôi lạnh, như người ta ngồi cạnh một tảng đá cây.

Mùi thuốc dâng lên. Tôi không nghe tiếng quẹt diêm. Tôi nhìn thẳng ra vườn bạch đàn, và bằng khoé mắt, tôi thấy một đốm đỏ sáng lên ở ngang tầm tay, bên trái.

Tôi ngồi như thế một lúc lâu. Rồi tôi nói, giọng thấp, không quay đầu.

"Bác Khảm về Nga Sơn làm sao?"

Im lặng. Đốm đỏ sáng, mờ. Rồi một giọng. Khàn, khô, không có hơi, như tiếng nói đã bị bỏ trong phòng lạnh lâu ngày.

"Tao có đi đâu."

Tay tôi bấu vào mép ghế. Tôi nói tiếp, vì nếu dừng thì tôi không dám nói nữa.

"Bác ở đâu?"

"Chỗ cũ."

Tôi nói, cháu không hiểu. Giọng ấy im một lúc. Tôi nghe có tiếng như người cố ho mà không ho được, một tiếng rít khan trong cổ.

"Hôm nọ mày đóng cửa làm gì."

Tôi bảo cháu lạnh. Giọng ấy nói, tao cũng lạnh. Rồi không nói thêm.

Chúng tôi ngồi. Đốm đỏ cháy chậm hơn người thường hút. Tôi muốn quay sang. Toàn thân tôi muốn quay sang, như lúc người ta đứng trên nóc nhà muốn nhìn xuống. Tôi không quay. Tôi nghĩ đến ông già tóc bạc, ông không quay, ông được ngồi yên đến sáng.

Đốm đỏ hạ xuống, dụi vào chân ghế bên trái. Tôi nói nhanh, trước khi ghế kẹt.

"Ông Cường gửi bác rượu. Ông ấy bảo bác ra uống với ông ấy. Ông ấy bảo ông ấy già rồi, không đợi được lâu."

Tiếng rít khan trong cổ lại vang lên, dài hơn. Tôi không biết là cười hay là ho hay là khóc.

"Bảo nó, tao không ra được xa. Bảo nó đừng đợi."

Rồi giọng ấy thấp xuống nữa, gần như thì thầm sát vai tôi.

"Đừng mở, Thịnh. Chưa đến lúc. Mở ra thì mày phải nhìn, mà tao không muốn mày nhìn tao như thế."

Ghế kẹt. Vai tôi hết lạnh. Tiếng dép lê trên gạch, vòng ra sau lưng tôi, về phía cửa.

Lúc ấy tôi quay lại.

Tôi thấy ông. Lưng gù, áo bảo vệ màu cỏ úa, dáng gầy đến mức như chỉ còn cái áo đứng. Ông đi đến cửa hé một bàn tay, nghiêng người, và lách qua khe ấy. Lách vừa khít, không chạm cánh cửa, như một người đã đi qua cái khe ấy hàng nghìn lần. Rồi trong nhà tối nuốt lấy ông.

Trên mặt đá bên trái, bao Bông Sen vẫn ở chỗ cũ. Tôi cầm lên đếm dưới ánh đèn tròn. Mười bảy.

Tôi ngồi đấy đến sáng. Không phải vì không dám vào. Vì trong nhà bây giờ có hai người, và tôi không chắc ai trong hai người ấy đang canh ai.