Chương 8: Mùi dầu nhớt
Khoảng 4 phút đọc·5lượt xem
Từ đêm đó tôi không ngủ nữa. Không phải thức giấc giữa khuya như ba năm nay. Là không ngủ, hết. Nằm xuống là nghe tiếng nước nhỏ. Nhắm mắt là thấy vệt sơn trắng.
Và mùi. Mùi dầu nhớt. Lúc đầu chỉ ở mấy tờ tiền trong lon, lẫn với mùi bùn. Rồi nó ở gối. Ở áo đồng phục giặt rồi phơi khô. Ở tay tôi, rửa xà bông ba lần vẫn còn.
Mùi nhớt cũ cháy khét lẫn mùi mưa, mùi của một cái ca bin chật đóng kín cửa kính. Tôi biết mùi đó từ đâu. Tôi biết mà tôi không nói với ai, kể cả nói với mình trong đầu.
Hữu bắt đầu tránh tôi. Nó về trễ hơn, ngủ ngoài hiên gác, nói phòng nóng. Một buổi trưa tôi về thì thấy nó đứng giữa phòng, nhìn xuống sàn, mặt trắng.
Dưới cái áo mưa cánh dơi xanh rêu treo sau cửa, có một vũng nước. Nước nhỏ từ gấu áo mưa xuống sàn gác bằng ván ép, loang ra, mà loang lệch về một phía, về phía cái nệm của tôi. Trời nắng ba ngày nay. Áo mưa đó ba năm không ai đụng tới.
Hữu nói, không nhìn tôi:
"Mầy giấu chi thì mầy đi mà giải quyết. Tau không ở nữa."
Tôi nói Hữu ơi. Nó cuốn nệm, nhét quần áo vào bao, xách xuống cầu thang. Tới bậc cuối nó dừng lại:
"Cái áo mưa đó. Lần mô tau hỏi mầy cũng nói để đó. Để đó cho ai, Khang?"
Nó không chờ tôi trả lời. Nó qua ở với thằng Tín bên Gò Vấp. Cái phòng còn một mình tôi, cái quạt, cái lon sữa, và cái áo mưa nhỏ nước.
Tôi không gỡ cái áo mưa xuống. Tôi lấy cái thau hứng.
* * *
Hôm sau tôi ra chợ Thủ Đức lúc chín giờ sáng. Ki ốt cửa cuốn sơn xanh vẫn đóng, dòng chữ hủ tiếu gõ mờ dưới nắng. Tôi hỏi bà bán rau kế bên về ông Tám. Bà chỉ tay qua bên kia đường: ông bán cà phê cóc trước tiệm thuốc tây, ông già đội nón tai bèo.
Ông Tám cỡ bảy mươi, gầy, tay pha cà phê hơi run. Tôi mua một ly đen đá, ngồi xuống cái ghế nhựa thấp. Tôi nói tôi chạy xe, có khách kêu tới quán hủ tiếu ông Tám, tới nơi thấy đóng cửa.
Ông Tám ngẩng lên:
"Khách nào kêu tới quán tui? Dẹp ba năm rồi."
Tôi nói một cô, cỡ hai mươi mấy, áo khoác vải bò.
Ông Tám ngồi im lâu lắm. Rồi ông kéo cái ghế lại gần tôi hơn, nói nhỏ, như sợ người ngoài nghe.
"Con Thảo. Nó phụ tui hai năm. Bưng bê, rửa tô, từ bảy giờ tối tới một giờ sáng. Hiền."
"Khách cho tiền lẻ nó hổng xài. Nhét hết vô túi áo khoác. Nói để dành đi xe ôm về. Mà tiếc tiền lắm... đêm nào ế là đi bộ, dọc đường ray, qua Hiệp Bình Chánh. Tui la hoài, có nghe đâu."
Ông ngừng, nhìn ra đường.
"Bữa đó mưa. Tui dẹp sớm, một giờ. Nó đứng trước quán bấm điện thoại kêu xe. Kêu hoài hổng ai nhận."
"Rồi nó nói, thôi con đi bộ chú Tám, gần xịt. Tui đưa cái áo mưa, nó hổng lấy. Nói có áo khoác rồi. Rồi đi."
"Gần sáng công an gọi tui. Nó nằm dưới chân cầu Bình Lợi. Xe đụng... chạy luôn. Hổng ai thấy. Tới giờ cũng hổng bắt được."
Tôi cầm ly cà phê. Đá trong ly kêu lách cách. Tôi phải để ly xuống.
Ông Tám nhìn tôi:
"Chú sao vậy?"
Tôi nói không sao, tôi hay chở khách ngang đoạn đó. Ông Tám gật gật, rồi nói, nhẹ như không:
"Ờ. Ngang đó thì chạy chậm chậm, cho nó."
* * *
Tôi không về trọ. Tôi chạy qua bãi đất. Ban ngày, nắng, cỏ cháy vàng. Tôi ngồi xuống cái ghế nhựa đỏ gãy chân dưới gốc gòn, cái ghế nghiêng, tôi ngồi lệch một bên cho khỏi đổ.
Tôi mở điện thoại. Lịch sử cuốc. Cuốc đầu tiên, Hàng Xanh cổng cấp cứu. Tôi bấm vào chi tiết. Xưa nay tôi chưa bấm vào đó bao giờ, có gì mà coi. Giờ tôi bấm.
Mã cuốc bắt đầu bằng mười sáu. Thời điểm đặt: một giờ ba mươi mốt sáng, ngày mười bốn tháng Chín năm 2016. Điểm đón: không rõ. Điểm đến: Bệnh viện Đa khoa Hàng Xanh, cổng cấp cứu. Trạng thái cũ, gạch ngang: Không có tài xế nhận.
Tôi ngồi với cái điện thoại trong tay cho tới khi màn hình tự tắt.
Mười bốn tháng Chín. Một giờ ba mươi mốt.
Tôi không cần lật lịch. Tôi không cần nhớ. Có những ngày người ta không nhớ, mà nó ở trong người, như cái mùi nhớt trong tay tôi, rửa ba lần không ra.