☾ Truyện Ma Có Thật
← Đám cưới trong phòng thờ

Chương 3: Tiếng cười một mình

Khoảng 4 phút đọc·2lượt xem

Từ hôm ấy, đêm nào phòng thờ cũng có tiếng.

Không phải đêm nào cũng giống nhau. Có đêm chỉ vài câu rồi thôi. Có đêm kéo dài đến lúc gà gáy đợt hai. Nhưng bao giờ cũng bắt đầu khi ngoài ao ếch nhái im bặt, và trong nhà có một mùi rất lạ, mùi bùn đầm lẫn với mùi hoa nhài, cả hai cùng lạnh.

Nhà tôi đổi hẳn. U tôi tối nào cũng vào phòng thờ thắp hương, đặt hai chén nước, hai đôi đũa, một đĩa xôi nhỏ. U nói chuyện với hai tấm ảnh như nói với con gái con rể về chơi. Bố ngủ được, lần đầu tiên từ rằm tháng Giêng. Có hôm bố còn ra ao thả lưới.

Tin đồn chạy khắp xóm. Bà Tẹo đầu đình bảo cả đời bà chưa thấy cái đám cưới ma nào ứng nghiệm nhanh thế. Mấy bà hàng xóm tối tối sang ngồi uống nước chè ở hiên, giả vờ nói chuyện mùa màng, tai vểnh về phía nhà ngang. Có tiếng cười vọng sang thì cả bọn nhìn nhau, gật gù, như vừa nghe đài báo được mùa.

"Đẹp đôi. Đẹp đôi thật. Thằng Lượng ngày xưa cũng hiền."

Chỉ có tôi là không ngủ được.

Tôi nói với u là nhà trên nóng, xin sang nằm với cô Lụa. Buồng cô sát vách phòng thờ, vách đất trộn rơm, lâu năm đã nứt chân chim. Cô Lụa cho tôi nằm, nhưng cô quay mặt vào tường, chăn trùm kín đầu. Tôi biết cô không ngủ, vì suốt đêm tôi không nghe cô thở đều lấy một lúc.

Nằm sát vách, tôi nghe rõ hơn nhiều.

Tiếng chị Nhài ở rất gần, như ngay bên kia lớp đất, chỗ án gian. Chị nói nhỏ, không rõ hết chữ, nhưng tôi nghe được giọng. Giọng chị lúc vui, hơi lên cao ở cuối câu. Còn tiếng đàn ông thì xa hơn. Trầm, đều, thỉnh thoảng ngắt quãng rất lâu, như người đang nghĩ xem nên nói gì. Tôi không phân biệt được một chữ nào của tiếng ấy.

Rồi chị cười. Vẫn chỉ mình chị cười.

Có một đêm, giữa hai tiếng cười, chị nói một câu mà tôi nghe rõ từng chữ:

"Đã bảo đừng gọi người ta là Nhím nữa cơ mà."

Tôi nằm cứng người trong chăn.

Hai năm trước, vào một buổi chiều tháng Năm, tôi theo chị ra bờ đê sông Trà Lý. Tôi tò mò vì chị hay bảo đi giao hàng thêu mà không mang hàng. Chị ngồi dưới gốc gạo ở khúc đê vắng, quay lưng ra đồng. Tôi nấp sau bụi duối. Một lúc, trong lùm cây dưới chân đê có tiếng ai gọi khẽ:

"Nhím ơi."

Chị tôi cười. Đúng cái tiếng cười khúc khích nén trong cổ họng ấy. Tôi định ngó xem là ai thì giẫm phải cành khô. Chị quay lại, thấy tôi, mặt đỏ bừng. Người dưới lùm cây lặng đi, rồi tôi nghe tiếng chân lội nước xa dần. Tôi không thấy mặt người ấy.

Hôm đó chị kéo tôi về, dọc đường bắt tôi thề không được nói với ai. Chị bảo: "Mày mà nói với bố thì chị chết." Tôi thề. Tôi giữ lời. Rồi tôi quên mất chuyện ấy, như con nhà quê quên mọi chuyện người lớn.

Bây giờ tôi nằm sát vách phòng thờ, và chị tôi lại cười như thế, với một người lại gọi chị là Nhím.

Tôi nghĩ mãi không thông. Anh Lượng chết từ năm bảy hai, lúc chị tôi chưa ra đời. Anh lấy đâu ra cái tên ấy? Hay người chết thì biết hết mọi chuyện của người sống? Tôi không dám hỏi ai. Hỏi thì phải kể chuyện bờ đê, mà tôi đã thề.

Sáng nào tôi cũng vào phòng thờ trước u. Đôi dép cánh sen dưới gầm án gian vẫn quay mũi ra cửa. Hai chiếc sát nhau, không sai một li. Tôi không quay lại. Tôi chỉ cúi nhìn đế dép xem có bùn không. Không có. Đế khô, sạch, như chưa ai đi bao giờ.

U tôi nhìn đôi dép thì mỉm cười.

"Nó muốn sang nhà chồng. Đủ trăm ngày là cho nó đi."

Ngày thứ chín sau lễ cưới, tôi dậy sớm hơn mọi hôm. Trời còn tối, sương xuống dày, mái ngói nhà ngang ướt nhẫy. Tôi đẩy cửa phòng thờ. Mùi hương đêm qua đã nguội. Mùi nhài vẫn còn, đậm đến lạ.

Trên bậu cửa sổ, sát song gỗ, có một bông nhài.

Bông hoa tươi, cánh trắng còn đọng sương, cuống mới ngắt, nhựa còn dính. Nhà tôi không trồng nhài. Cả xóm Đông chỉ có cây nhài của nhà bà Tẹo, mà nhà bà Tẹo ở tận đầu đình, mấy hôm trước tôi đi qua còn thấy cây trụi lá vì rét.

U tôi vào, thấy bông hoa, chắp tay lên ngực.

"Chồng nó tặng nó đấy. Hai đứa thương nhau quá."

U nhặt bông nhài, đặt lên án gian, cạnh tấm ảnh chị. Cô Lụa đứng ngoài hiên nhà ngang nhìn vào. Cô không nói gì. Mắt cô đỏ hoe, như người thức suốt đêm, và lần ấy tôi để ý cô nhìn bông hoa như nhìn một con dao.

Tôi ở lại một mình, bước đến bên cửa sổ. Song cửa nhà tôi làm bằng gỗ xoan, sơn nâu, đã tróc. Trên ba cái song giữa, phía ngoài, có mấy vệt bùn đen. Bùn đầm, còn ướt, nhão như vừa vớt lên.

Tôi đặt tay mình lên cạnh mấy vệt ấy để so. Đó là dấu những ngón tay. Ngón dài, đốt to, to hơn tay tôi gần gấp rưỡi. Đã nắm vào song cửa từ phía ngoài, phía ao, và nắm rất chặt.